Trên con đường mang tên Vũng Tàu giữa lòng Thủ đô Baku (Azerbaijan), anh Heydar Mammadov đứng lặng khá lâu trước tấm biển ghi tên một đất nước xa xôi nhưng gắn bó sâu sắc với gia đình anh. Đó là Việt Nam - nơi ông nội anh từng đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành công nghiệp dầu khí.
"Với tôi, Việt Nam không chỉ là một cái tên trên bản đồ mà còn là mảnh đất gắn bó sâu sắc với ông nội tôi", anh xúc động chia sẻ với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Người anh nhắc đến là ông Jalal Mammadov (1925-2009), Tổng Giám đốc đầu tiên của Liên doanh Dầu khí Việt - Xô (Vietsovpetro) giai đoạn 1981-1984. Ông là người đặt nền móng cho quản trị, đào tạo nhân lực và xây dựng mô hình công nghiệp dầu khí hiện đại cho Vietsovpetro, được nhiều thế hệ lãnh đạo ngành dầu khí Việt Nam ghi nhận.
Nhưng khi nhắc đến ông nội mình, anh Heydar không bắt đầu bằng những cột mốc kỹ thuật hay sản lượng dầu khí.
“Ông luôn nói về Việt Nam với sự trân trọng đặc biệt. Ông coi những năm tháng ở Việt Nam là một phần cuộc đời mình”, anh kể.
Hành trình hợp tác ấy bắt nguồn từ chuyến thăm Baku ngày 23-7-1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dấu mốc đặt nền tảng cho quan hệ hợp tác dầu khí lâu dài giữa Việt Nam và Azerbaijan khi nước này còn thuộc Liên Xô.
Ông Jalal Mammadov - người định hình hệ thống quản trị và đào tạo cho Vietsovpetro
Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, ông Ngô Thường San - nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro và Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) cho biết truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam luôn ghi nhận câu nói lịch sử của Bác Hồ khi Người thăm thành phố Baku ngày 23-07-1959. Dấu mốc này cũng được Đại sứ Cộng hòa Azerbaijan tại Việt Nam Shovgi Mehdizada nhiều lần nhắc đến một cách tự hào.
Trong chuyến thăm khu công nghiệp dầu khí tại đây, Bác đã đề nghị Liên Xô và Azerbaijan giúp đỡ Việt Nam xây dựng và phát triển ngành dầu khí. Sự kiện lịch sử này tạo tiền đề cho hợp tác về dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô, trong đó có Azerbaijan, sự ra đời và phát triển của ngành dầu khí Việt Nam sau này.
Năm 1981, Liên doanh dầu khí Việt Nam - Liên Xô (Vietsovpetro), nay là Liên doanh Việt - Nga, được thành lập theo mô hình Xí nghiệp Liên hợp thăm dò - khai thác dầu khí Baku với chuỗi hoạt động đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến nghiên cứu, thiết kế và dịch vụ kỹ thuật dầu khí biển.
Đồng chí Jalal Mammadov, lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Azerbaijan, được cử sang Việt Nam giữ cương vị Tổng giám đốc Liên doanh, cùng phía Việt Nam xây dựng và điều hành tổ hợp công nghiệp dầu khí quy mô lớn từ con số không trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn thiếu thốn những năm 1980.
Là người lãnh đạo giàu kinh nghiệm từ tổ hợp dầu khí Baku, ông Jalal đặc biệt coi trọng kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và an toàn. Ông thẳng thắn chỉ ra những hạn chế về tác phong thiếu kỷ luật thời kỳ đầu, đồng thời phối hợp chặt chẽ để xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp.
Trong điều hành, ông được nhận xét là gần gũi, hòa nhã, tôn trọng ý kiến chuyên môn của các lãnh đạo Việt Nam và duy trì cơ chế phối hợp tin cậy giữa hai bên. Ngay từ những ngày đầu, một thế hệ cán bộ, kỹ sư Việt Nam đã được lựa chọn đào tạo tại Baku, Sakhalin và nhiều trung tâm dầu khí khác, góp phần hình thành bộ khung nhân lực cho ngành.
Chỉ sau một năm hoạt động, Vietsovpetro đã xây dựng được cơ sở hạ tầng lắp ráp giàn khai thác. Nếu giàn đầu tiên phải nhập đồng bộ từ Baku, thì từ giàn thứ hai, khối chân đế đã được chế tạo tại chỗ. Năm 1984, chân đế MSP-1 được hạ thủy tại mỏ Bạch Hổ. Ngày 26-6-1986, dòng dầu công nghiệp đầu tiên được khai thác, đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu thô.
“Đó là một kỳ tích vì chỉ trong 5 năm sau thành lập, Vietsovpetro đã xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng cho hoạt động dầu khí biển, khoan phát hiện và tổ chức khai thác công nghiêp tấn dầu đầu tiên mà nhiều tập đoàn dầu khí thế giới khó đạt với khoảng thời gian như vậy”, ông Ngô Thường San xúc động nhớ lại.
Quan trọng hơn, nhiều lãnh đạo của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, sau này là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng đều trải qua công tác đào tạo thời gian đầu tại Vietsovpetro.
Ông Ngô Thường San nhấn mạnh, đóng góp của ông Jalal và các chuyên gia Azerbaijan vừa chuyển giao kỹ thuật, vừa đào tạo một đội ngũ có thể làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ dầu khí biển. Đến nay, Vietsovpetro vẫn là đơn vị chủ lực của ngành với tổng sản lượng khai thác trên 250 triệu tấn dầu thô và gần 60 tỷ USD nộp ngân sách Nhà nước.
Năm 2010, ông Jalal được Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhất vì những “đóng góp tích cực trong việc hợp tác đào tạo, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, góp phần phát triển ngành Dầu khí Việt Nam”.
Ông Ngô Thường San là Tổng Giám đốc Vietsovpetro người Việt đầu tiên (đảm nhiệm vị trí này từ năm 1991 đến 1996)
Cùng chung nhận định, ông Tofig Mahammadov, nguyên Phó kỹ sư trưởng Vietsovpetro, cho phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội biết rằng đóng góp lớn nhất của ông Jalal Mammadov là xây dựng mô hình quản trị cho liên doanh. Chỉ trong 5 năm, 17 phòng ban cùng hệ thống khoan, khai thác, vận tải biển, kho bãi và khu nhà ở cho chuyên gia đã được hình thành, tạo nền tảng để Vietsovpetro đón dòng dầu đầu tiên năm 1986.
Heydar lắng nghe những câu chuyện ấy từ khi còn nhỏ.
“Cha tôi thường kể rằng ông nội làm việc rất nghiêm khắc và kỷ luật, nhưng với gia đình, ông luôn ấm áp, đặc biệt khi nhắc đến Việt Nam, ánh mắt ông luôn khác đi, rất tự hào.
Dịp Tết 2024, Heydar cùng cha - ông Elkhan Mammadov - và vợ là chị Sanubar Mammadova sang Việt Nam, đến Vũng Tàu thăm trụ sở Vietsovpetro - nơi người ông và người cha mình từng gắn bó.
“Chúng tôi muốn tận mắt thấy nơi ông tôi từng sống và cống hiến. Thực sự, đó không hẳn chỉ là chuyến đi mà là sự trở về với ký ức. Chúng tôi rất trân trọng thời gian ở Việt Nam, nơi ông dành nhiều năm tháng tuổi trẻ làm nghĩa vụ quốc tế cao đẹp”.
Anh kể lại cảm giác khi bước vào trụ sở Vietsovpetro là vừa tự hào, vừa xúc động. Những người từng biết hoặc từng nghe về ông Jalal đón tiếp gia đình anh bằng sự yêu mến thân tình.
Trong 2 tuần ở Việt Nam, họ tham quan nhiều nơi, trò chuyện với nhiều kỹ sư các thế hệ và thưởng thức phở - món ăn mà Heydar nói là “đơn giản nhưng sâu sắc như chính con người Việt Nam”.
Điều khiến anh xúc động nhất là sự trân trọng mà những người trẻ dành cho di sản của thế hệ đi trước. “Tôi nhận ra rằng ông tôi không chỉ để lại những công trình; ông để lại con người - những kỹ sư được đào tạo bài bản, có kỷ luật và tự tin.
“Chúng tôi đến với tâm thế của những người tìm về câu chuyện gia đình, nhưng rời đi với cảm giác như vừa được đón nhận bởi một gia đình lớn hơn”, anh Heydar nghẹn ngào.
Trở về Baku, Heydar đưa tôi đến đường Vũng Tàu. Anh kể rằng ở Việt Nam cũng có đường Ba Cu - cái tên bắt nguồn từ Baku. Theo anh, những địa danh ấy là dấu mốc của một giai đoạn hợp tác thủy chung.
“Những biểu tượng như vậy, cùng với tình cảm qua bao thế hệ, cần được nhắc lại và làm mới bằng giao lưu nhân dân. Tôi không làm trong ngành dầu khí, không thể tiếp nối ông tôi về chuyên môn, nhưng có thể duy trì sự gắn kết theo cách của mình. Tôi muốn thế hệ trẻ ở Azerbaijan hiểu hơn về Việt Nam, và ngược lại,” anh bộc bạch.
Quả thực, Heydar - một chuyên gia tài chính - và Sanubar đã trở thành cầu nối văn hóa đưa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè ở đất nước bên bờ biển Caspi xinh đẹp. Họ dày công gìn giữ kỷ vật gia đình gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của hai dân tộc và lan tỏa chính trải nghiệm của mình về đất nước, con người Việt Nam kiên cường với những năm tháng nghĩa tình.
Trước khi chia tay, Heydar và Sanubar tặng tôi chiếc khăn quàng dệt họa tiết truyền thống Azerbaijan và cài áo hình Khari Bulbul - một loài lan đặc trưng của vùng Karabakh ở Vùng đất của Lửa (Land of Fire), mà theo Sanubar, đó là món quà nhỏ nhưng thể hiện tình cảm của những người bạn phương xa thông qua bản sắc dân tộc.
Trong câu chuyện của Heydar, Việt Nam là một phần di sản được truyền lại qua nhiều thế hệ. “Nếu ông tôi còn sống, tôi tin ông sẽ rất vui khi thấy quan hệ hai nước vẫn được duy trì và phát triển. Và tôi nghĩ trách nhiệm của thế hệ chúng tôi là không để mạch nguồn liên kết ấy đứt đoạn”, Heydar bày tỏ.
Trên đường Vũng Tàu giữa lòng Baku, người cháu ấy đang lặng lẽ tiếp nối nhịp cầu hữu nghị hơn nửa thế kỷ, bằng ký ức gia đình, những cuộc gặp gỡ chân thành và tình cảm dành cho Việt Nam như quê hương thứ hai.
Nguồn: https://hanoimoi.vn/chuyen-chua-ke-ve-nguoi-azerbaijan-dat-nen-mong-cho-vietsovpetro-976027.html








Bình luận (0)