Không cao đàm khoát luận, không “tỏ ra”, cuốn sách tạo dư ba bằng chính sự điềm nhiên, hiền minh, thanh tĩnh của người viết - người đã dành nhiều năm sống trong chữ, thở cùng chữ, nghe được vọng âm của chữ.
Và như mọi hành trình tâm linh, chuyên luận không chỉ làm ta sáng thêm về thơ Hoàng Vũ Thuật, mà còn thay đổi cách ta đối diện với ngôn từ. Ta đứng chậm lại. Ta nhìn sâu hơn. Ta để mình được đầy tràn hơn dưới ánh sáng tĩnh lặng mà Nguyễn Thành Hưởng đã tinh tế phơi mở.
![]() |
| Tập Cuộc hẹn kỳ vĩ ở xứ sở không tôi (thơ Hoàng Vũ Thuật qua mĩ học thiền - tịnh) của tác giả Nguyễn Thành Hưởng - Ảnh: H.Đ.K |
2. Có hai kiểu phê bình: Phê bình chinh phục, coi văn bản là chiến trường, lấy lí thuyết làm khí giới; và phê bình thấu cảm, lấy sự lắng nghe làm điểm tựa. Nguyễn Thành Hưởng thuộc kiểu thứ hai.
Sự lắng nghe này không thụ động, mà là một trạng thái tinh thần tỉnh thức: Nhận biết được những động cựa rất khẽ khàng trong văn bản, những thay đổi nhiệt độ tinh tế trong ngôn từ, những khoảng trắng chứa nhiều hơn cả nghĩa. Trong thơ Hoàng Vũ Thuật, nơi mà một chữ có thể đứng đơn độc trong một dòng, nơi mà một dấu phẩy có thể tạo ra một vùng khí mới, nơi mà một vệt sáng có thể mở ra cả một chiều tâm linh, thì người đọc biết lắng nghe là người duy nhất có thể thông tỏ được độ sâu thứ hai của chữ.
Và Nguyễn Thành Hưởng đã thực hiện điều đó bằng một trực giác thẩm mĩ của một nhà khoa học biết gìn giữ sự sáng suốt và tự chủ của mình.
3. Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ của những chuyển động tinh sạch và mong manh, như sương. Ở ông, không có những tuyên ngôn ồn ào, những đúc kết lớn lao, những cảm xúc cực tả. Nhưng chính sự tiết chế, tự nhiên như hơi thở ấy làm cho thơ ông mang một thứ năng lượng của chiều sâu. Giống như một mặt nước trong: Càng nhìn kĩ, càng thấy nhiều, và điều ta thấy không chỉ là cảnh dưới nước, mà còn là bóng mình.
Chuyên luận của Nguyễn Thành Hưởng đưa ta đến một điểm nhìn mới: Hoàng Vũ Thuật không chỉ là một tiếng nói riêng biệt của thơ Việt hiện đại, mà còn là một thi sĩ ở ranh giới giữa hữu hình và vô hình. Thơ ông là nơi những sự vật nhỏ nhất - chiếc bóng, vệt khói, tiếng chim, giọt mưa - đều mang sức nặng triết học của một tồn tại đã qua quá trình cảm niệm, chiêm nghiệm.
Trong cách lí giải ấy, thi sĩ Hoàng Vũ Thuật hiện ra không phải như một người cố gắng “đại tự sự”, mà như một người để điều lớn (nếu có) tự nói qua mình. Nguyễn Thành Hưởng đã thính nhạy nghe ra, như một khách tri âm đặc biệt.
4. Một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của chuyên luận là khi nó trừu xuất được cách cái tôi chủ thể tự tan rã để thành vô ngã trong thơ Hoàng Vũ Thuật. Sự tan rã này không phải là khủng hoảng. Nó là sự rụng của chín, sự tan của sương, sự mở của nụ, sự biến hóa của ánh sáng.
Có những bài thơ bắt đầu bằng cái tôi rất rõ: Cảm, nhớ, mong, buồn… Nhưng chỉ một lúc sau, cái tôi ấy mờ dần, loãng dần, rồi mở ra một vùng không gian khác, nơi mà chủ thể không còn trung tâm, nơi mà thế giới lên tiếng bằng chính luật vận hành của nó.
Nguyễn Thành Hưởng nhận ra điều đó không phải bằng triết lí chung chung có sẵn, hay bằng lí thuyết thời thượng ráo hoảnh, mà bằng cách đọc thi pháp, tức đọc sâu vào văn bản, làm việc cùng văn bản.
Đó là sự “tan” của chủ thể thi sĩ một khi đã đi tận cùng cái tôi đầy tràn. Và đến lượt, sự “tan” ấy đã chạm gặp cái nhìn của một nhà phê bình tuy có phần “ngoại đạo” văn chương nhưng lại luôn sống cùng chữ và thở cùng thiền - tịnh.
5. Trong nhiều trang viết đẹp của chuyên luận, ánh sáng hiện lên như một chủ thể. Nó không chỉ soi cảnh. Nó biết cất lời. Nó biết chuyển hóa. Nó biết dụ dẫn người đọc từ nơi này sang nơi khác.
Nguyễn Thành Hưởng chỉ ra ánh sáng trong thơ Hoàng Vũ Thuật không phải là ánh sáng vật lí, mà là ánh sáng tinh thần: Một phần của nhận thức, một phần của sự bung mở nội tâm. Những câu thơ để ánh sáng “chảy tràn ly”, “đổ lên vai”, “nâng dậy đời tôi” không còn là mô tả, mà đã thành những hình thái của sát na chứng ngộ.
Nhờ phân tích ánh sáng như một bản thể thứ hai của Hoàng Vũ Thuật, cuốn sách nói rằng thi sĩ không viết để làm đẹp thế giới, mà để mở thế giới, để đặt người đọc vào vùng sáng của một tri giác mới, dịu dàng hơn, thẳm sâu hơn.
6. Hoàng Vũ Thuật buồn theo cách riêng: Buồn nhưng không đóng khép, không nặng trĩu. Chỉ như một lọn mây không chịu mắc cạn, cứ thong dong vờn qua đỉnh núi.
Nguyễn Thành Hưởng nhìn ra điều ấy, và gói nén bằng một giọng tỉnh táo: Nỗi buồn trong thơ Hoàng Vũ Thuật là nỗi buồn tất nhiên tất yếu của con người, đặc biệt là “loài thi sĩ”. Không thể triệt tiêu nỗi buồn, nên chỉ còn cách khả dĩ là sống chung với nó, và chiếu rọi nó bằng ánh sáng của minh triết.
Thơ Hoàng Vũ Thuật có những câu chạm đến sự trống rỗng, sự vô nghĩa của đời sống. Nhưng thay vì gieo vào người đọc thứ năng lượng tiêu cực, những câu thơ ấy lại có khả năng tiếp truyền cho người đọc cảm hứng sống, mang lại cho họ cảm giác thanh thản bình yên.
7. Cuốn sách của Nguyễn Thành Hưởng đề xuất, kiến tạo một phương cách đọc: Đọc là đối thoại không ồn ào, để nghe được cả vọng âm từng con chữ; người đọc là căn nhà oa trữ, trong trạng thái mọi cánh cửa mở toang. Chỉ có mở lòng mở trí thì mới có được những cuộc gặp gỡ diệu kì.
Ta đọc thơ, nhưng đồng thời đọc chính mình. Ta đọc trong cõi tĩnh, để nghe được cả những khoảng trắng vô ngôn, để đi xa hơn chính văn bản.
Trong trạng thái ấy, thơ Hoàng Vũ Thuật trở thành người dẫn đường. Còn người viết chuyên luận trở thành chiếc đèn con vặn nhỏ bấc đặt sau vai ta, đủ sáng để ta không lạc, nhưng đủ nhẹ để ta vẫn đi bằng lòng trí mình.
8. Cuốn sách khép lại, nhưng mở ra trong ta một vùng sáng mỏng, vùng mà nhịp sống hằng ngày dễ làm ta bỏ quên. Ánh sáng ấy đến từ tài thơ và đến từ tâm phê bình.
Nguyễn Thành Hưởng không chỉ viết về mĩ học thiền - tịnh, mà còn thực hành chính mĩ học ấy trong phê bình. Ông đặt mình vào trạng thái tỉnh thức để đọc thơ, từ đó trình hiện một phong cách học thuật độc đáo: Thiền học của phê bình. Đó là lối đọc lấy tĩnh làm trung tâm, lấy lắng nghe làm phương pháp, nơi mà chủ thể phê bình làm mờ mình đi để đối tượng tự hiển lộ bản thể.
Cuộc hẹn kỳ vĩ ở xứ sở không tôi, rốt cùng, chính là cuộc hẹn mà mỗi chúng ta phải tự đến - cuộc hẹn với tỉnh thức, với phần tinh khiết và chân thật nhất trong chính mình.
Hoàng Đăng Khoa
Nguồn: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202604/cuoc-hen-cua-tinh-thuc-8ff349d/







Bình luận (0)