Bức tranh kinh tế địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Đáng chú ý, nghề nuôi cá lồng giữ vai trò quan trọng, là sinh kế chủ lực góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống của người dân tại các xóm ven lòng hồ sông Đà.
Xã Đà Bắc nằm trong vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình, sở hữu tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản. Tận dụng lợi thế tự nhiên cùng nguồn lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, người dân địa phương đã ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và đưa các giống thủy sản có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Nhờ đó, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từng bước được nâng lên, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương theo hướng bền vững.
Anh Đinh Công Sánh ở xóm Ké là một trong những hộ điển hình. Phát huy lợi thế mặt nước lòng hồ sạch và nguồn thức ăn sẵn có như ngô, sắn, cỏ do gia đình tự sản xuất, anh mạnh dạn đầu tư nuôi cá lồng, từng bước xây dựng mô hình mang lại hiệu quả kinh tế ổn định. Từ những ngày đầu còn nhiều khó khăn và thiếu kinh nghiệm, đến nay gia đình anh đã duy trì thường xuyên 8 lồng cá.
Anh Sánh cho biết, trước đây cuộc sống của gia đình cũng như nhiều hộ dân trong khu vực không ít khó khăn, chủ yếu dựa vào khai thác rừng và làm thuê. Tuy nhiên, nhờ mạnh dạn chuyển hướng sang nuôi cá lồng kết hợp làm du lịch cộng đồng, kinh tế gia đình dần khởi sắc. Nguồn thu khoảng 300 triệu đồng/năm, nhờ đó đời sống được cải thiện đáng kể, gia đình có thêm vốn để tái đầu tư mở rộng quy mô.
Hiện nay, trên địa bàn xã đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tiêu biểu như mô hình của anh Xa Văn Huy, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ sản xuất kinh doanh nông, lâm nghiệp Hiền Lương với hơn 40 lồng nuôi các loại cá đặc sản, cho doanh thu hơn 500 triệu đồng/năm.
Theo anh Huy, việc liên kết sản xuất theo mô hình hợp tác xã giúp các hộ nuôi giảm chi phí đầu vào, chủ động hơn trong khâu tiêu thụ sản phẩm và hạn chế rủi ro trước biến động của thị trường. Thực tế cho thấy, bình quân mỗi lồng cá mang lại lợi nhuận từ 10-15 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí. Nhờ đó, nhiều hộ dân không chỉ thoát nghèo mà còn từng bước vươn lên làm giàu.
Trên địa bàn xã hiện có 320 lồng nuôi cá, với sản lượng đạt khoảng 2.250 tấn/năm; điển hình như cá rô phi, cá trắm, cá lăng, cá bỗng, cá ngạnh, cá tầm... mang lại giá trị kinh tế cao. Các hộ nuôi trồng thủy sản khi thu hoạch cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và đưa về các chợ nông sản đầu mối trung tâm của vùng.
Ông Quản Hoàng Nam, Trưởng phòng Kinh tế xã Đà Bắc cho biết: Trung bình mỗi hộ dân xã Đà Bắc nuôi tầm 10-20 lồng cá cho thu nhập hàng trăm triệu mỗi năm, góp phần giúp nhiều hộ vươn lên thoát nghèo và từng bước làm giàu chính đáng. Cá khi đánh bắt được đưa về tiêu thụ tại Thủ đô Hà Nội và phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, ẩm thực của khách du lịch hồ Hòa Bình.
Năm 2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (cũ) đã phê duyệt Đề án Phát triển thủy sản hồ chứa thủy điện Hòa Bình gắn với du lịch đến năm 2030. Từ đó, khu vực xã Đà Bắc đã hình thành mô hình hộ dân vừa nuôi cá lồng cung cấp cho thị trường, vừa gắn với phát triển du lịch sinh thái, giải trí.
Nhiều hộ chủ động đầu tư thêm thuyền du lịch để đưa đón khách vào các điểm tham quan trong quần thể hồ Hòa Bình, phục vụ nhu cầu ẩm thực ngay trên thuyền, đưa khách tham quan khu nuôi cá, chế biến các món ăn từ sản phẩm cá lồng... Nhờ những cách làm này, du khách được trải nghiệm những dịch vụ mới lạ, tham quan và sử dụng dịch vụ, sản phẩm đặc sản của địa phương.
Mô hình đã mở ra hướng đi mới trong mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của xã, tăng giá trị sản xuất thủy sản; là cơ hội giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân và đặc biệt là thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc khai thác tiềm năng nuôi cá lồng vẫn còn nhiều hạn chế như hạ tầng phục vụ nuôi trồng còn yếu, thiếu cảng cá, bến cá, cơ sở sơ chế, giao thông và điện chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất. Cùng với đó, chưa có hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về lồng bè, nhà nổi gắn với hoạt động du lịch sinh thái, giải trí, gây khó khăn cho đăng ký kinh doanh và tổ chức dịch vụ.
Hoạt động nuôi trồng còn manh mún, chưa hình thành vùng sản xuất tập trung, đầu tư đồng bộ; số cơ sở áp dụng quy trình đạt tiêu chuẩn VietGAP hoặc tương đương còn ít; người dân thiếu vốn đầu tư hạ tầng, thiết bị, con giống và thức ăn dẫn đến công nghệ nuôi chưa đồng bộ, rủi ro cao, hiệu quả thiếu ổn định; liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị còn lỏng lẻo, việc ứng dụng khoa học-công nghệ cao chưa phổ biến làm gia tăng chi phí trung gian và hạn chế giá trị gia tăng của sản phẩm.
Để nghề nuôi cá lồng của xã phát triển bền vững, cần đẩy mạnh quy hoạch vùng nuôi theo hướng tập trung, khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Cùng với đó, tăng cường liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, giúp nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định đầu ra cho người dân.
Việc hỗ trợ tiếp cận khoa học-kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện vay vốn cũng đóng vai trò quan trọng, giúp các hộ nuôi nâng cao năng suất, chất lượng. Bên cạnh đó, cần kiểm soát chặt chẽ mật độ lồng nuôi, tránh phát triển ồ ạt gây ảnh hưởng đến môi trường nước, bảo đảm sự phát triển lâu dài của nghề.
Thời gian tới, địa phương tiếp tục định hướng phát triển nuôi cá lồng theo hướng bền vững, gắn với tiêu chuẩn OCOP và phát triển du lịch sinh thái. Đồng thời, khuyến khích người dân tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng liên kết, xây dựng thương hiệu và ổn định sinh kế lâu dài từ nghề nuôi cá lồng.
Nguồn: https://nhandan.vn/da-bac-phat-huy-tiem-nang-nghe-nuoi-ca-long-post964116.html









Bình luận (0)