NGUỒN NƯỚC SUY GIẢM, HẠN, MẶN GIA TĂNG
Thời gian qua, biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến ĐBSCL. Lũ thấp, hạn, mặn ngày càng gay gắt và sạt lở nghiêm trọng đang là những nỗi lo thường trực đối với người dân.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, những năm gần đây, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân.
Đáng chú ý, nguồn nước mặt của vùng phụ thuộc tới 95% vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, trong khi nguồn nội sinh chỉ chiếm khoảng 5% và chủ yếu tập trung vào mùa mưa.
Số liệu quan trắc tại trạm Tân Châu giai đoạn 1990-2025 cho thấy, xu thế lũ trên sông MêKông đang giảm rõ rệt.
|
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Duy Huân, Phó Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ, kịch bản xấu nhất nếu không đảm bảo an ninh nguồn nước trước biến đổi khí hậu ở ĐBSCL là gia tăng sạt lở bờ sông, bờ biển, đặc biệt là ở An Giang, Đồng Tháp… đất nông nghiệp bị suy giảm thấy rất rõ. Đây không còn là câu chuyện dự báo nữa mà là thực tế đang diễn ra từng ngày. Cùng với đó, hệ sinh thái nước ngọt và nước lợ bị biến đổi. Môi trường sinh thái đang chứng kiến một sự tổn thương rất lớn. “Một vấn đề nữa là sụt lún đất, mà nguyên nhân chính là do khai thác nước ngầm. Có nhiều thông tin cho rằng sụt lún từ 1-2 cm mỗi năm, thậm chí có nơi 3 cm, tôi cho là đúng, thậm chí có thể cao hơn. Điều đáng nói là chúng ta không chỉ khai thác quá mức mà còn sử dụng rất lãng phí. Nếu chúng ta không thay đổi cách sử dụng thì tài nguyên này sẽ nhanh chóng cạn kiệt”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Duy Huân nhận định. |
Từ sau năm 2012 đến nay, hầu như không còn xuất hiện lũ lớn vượt báo động 3, thay vào đó là chuỗi năm lũ nhỏ kéo dài. Cùng với đó, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013.
Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4g/l có thể vào sâu khoảng 55,5 km vào năm 2030 và khoảng 62,5 km vào năm 2050.
Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Minh Khuyến, dòng chảy từ thượng nguồn về ĐBSCL có xu hướng suy giảm rõ rệt, giảm so với mức trung bình nhiều năm khoảng 13%. Riêng mùa khô 2015-2016 giảm 36%, giai đoạn 2019-2020 giảm 28%.
Trong khi đó, thủy triều có xu thế gia tăng, trung bình tăng khoảng 12 cm trong 25 năm, kéo theo triều cường tăng thêm 20-25 cm. Xâm nhập mặn vì thế có xu hướng đến sớm hơn và mạnh hơn.
Mặt khác, áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng. Tổng lượng nước khai thác toàn vùng đạt khoảng 32,25 tỷ m3/năm. Trong đó, nước cho nông nghiệp và thủy sản là 31,54 tỷ m3/năm; sinh hoạt 0,57 tỷ m3/năm; công nghiệp 0,13 tỷ m3/năm.
Việc gia tăng hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đang gây sức ép nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước.
Mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng trở thành thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước trong khu vực.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Cần Thơ, Cố vấn Khoa học của Viện Mekong, an ninh nguồn nước tại ĐBSCL hiện đang đối mặt với ít nhất 7 thách thức lớn, gồm 3 yếu tố bên ngoài và 4 vấn đề nội tại.
3 thách thức từ bên ngoài bao gồm: Tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu; sự phát triển các công trình thủy điện ở thượng nguồn làm suy giảm lượng phù sa, bùn cát; nguy cơ nguồn nước mùa khô bị chuyển hướng, điển hình là dự án kênh đào Funan Techo (Campuchia).
Trong khi đó, các vấn đề nội tại cũng đang gây áp lực lớn: tình trạng khai thác nước ngầm quá mức phục vụ sản xuất; ô nhiễm nguồn nước do lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng nước còn rất thấp. Nguyên nhân chính là việc sử dụng nước quá lớn cho sản xuất lúa. Để sản xuất 1 tấn lúa cần tới 4.000 - 5.000 m3 nước. Việc thay đổi mục đích sử dụng đất cũng đang tác động tiêu cực đến nguồn nước trong vùng.
THÍCH ỨNG LINH HOẠT
Trước những tác động cực đoan của biến đổi khí hậu, việc triển khai các giải pháp để đảm bảo an ninh nguồn nước, hướng đến đảm bảo đời sống, sản xuất của người dân ĐBSCL đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, để đảm bảo an ninh nguồn nước cho khu vực ĐBSCL cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại.
Các giải pháp trọng tâm gồm: Nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi; tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.
Một trong những giải pháp quan trọng là cần tiếp tục đầu tư các dự án kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống kiểm soát tại các sông lớn; nâng cấp đê biển và phát triển các công trình chuyển nước, kết nối nguồn nước giữa các vùng.
Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kinh, rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như: Ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn mặn.
“ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm, nhưng đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu và sụt lún đất.
Vì vậy, định hướng phát triển phải theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động điều tiết nguồn nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh nhấn mạnh.
Dưới góc nhìn chuyên gia, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng, ĐBSCL cần sớm điều chỉnh chiến lược sử dụng nước theo hướng bền vững hơn.
Một trong những vấn đề được đặt ra là có nên tiếp tục duy trì sản xuất lúa 3 vụ và hệ thống đê bao khép kín tại các vùng như: Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười. Việc kiểm soát lũ quá mức khiến khả năng trữ nước tự nhiên suy giảm; đồng thời, làm gia tăng nguy cơ ngập úng tại đô thị.
“Liên quan đến giải pháp trữ nước, cần tránh xu hướng đào ao hồ quá sâu. Thực tế cho thấy các ao sâu trên 3 m có thể làm phát sinh phèn và gây hiện tượng hút nước từ khu vực xung quanh, làm gia tăng thiếu nước cục bộ trong mùa khô”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết thêm.
Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến cho biết, quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông MêKông.
Đồng thời, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn. Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế.
Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông. Đồng thời, tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như: Ven biển, bán đảo Cà Mau.
Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi cần được đặt ra. Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất…
C. TRÍ - T. ĐẠT
Nguồn: https://baodongthap.vn/khi-vua-lua-doi-mat-con-khat-nuoc-a238640.html






Bình luận (0)