Khơi nguồn tín dụng, tiếp sức cho nền kinh tế
2026 là năm mở đầu cho giai đoạn phát triển 2026-2030, đồng thời là thời điểm đất nước bước vào “vận hội mới”, “kỷ nguyên mới” với quyết tâm đưa Việt Nam phát triển lên tầm cao mới hướng tới các dấu mốc năm 2030 và 2045.
Đây là giai đoạn “bứt tốc phát triển” của nền kinh tế, song cũng đặt ra hàng loạt yêu cầu mới đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Theo đó, vấn đề đặt ra hiện nay là phải nhận diện rõ đâu là cơ hội, đâu là thách thức để có giải pháp ứng phó từ sớm, từ xa.
Cụ thể hóa định hướng này, Ngân hàng Nhà nước xác định ưu tiên kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, tạo nền tảng thu hút đầu tư và duy trì niềm tin thị trường. Chính sách tiền tệ sẽ được điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa cùng các chính sách vĩ mô khác.
Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng có trách nhiệm huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Đồng thời, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Chia sẻ tại tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” diễn ra mới đây, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng và tín dụng ngành, lĩnh vực để đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng, cũng như cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục, chuyển đổi số..., góp phần tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm, dòng vốn tín dụng đã ghi nhận sự tăng trưởng ổn định ngay từ đầu năm. Tính đến cuối tháng 4-2026, quy mô dư nợ toàn hệ thống đã đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng.
"Nếu so với cùng kỳ năm trước, con số này ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng lên tới 18,26%, cho thấy sự nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc khơi thông dòng vốn tín dụng", bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết.
Vốn tín dụng còn đóng vai trò là "nguồn lực huyết mạch" cho các công trình trọng điểm quốc gia, góp phần thực hiện đột phá chiến lược về phát triển hạ tầng với nhiều dự án được cam kết đầu tư lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dòng vốn chính sách cũng tiếp tục lan tỏa giá trị nhân văn khi đạt quy mô dư nợ 437,7 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ kịp thời cho hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ.
Bên cạnh kết quả đạt được, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Phạm Thị Thanh Tùng cho rằng, hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức, như: Áp lực từ bên ngoài (gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại...); nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng; một số chương trình như nhà ở xã hội còn vướng mắc về nguồn cung…
Tín dụng chất lượng – nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Trong khi đó, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, trong bối cảnh dư địa chính sách không còn nhiều, việc thực hiện đồng thời các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng hiện là bài toán khó trong công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước.
Theo đánh giá của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Phạm Chí Quang, những thay đổi trong chính sách tiền tệ toàn cầu sẽ kéo theo biến động về lãi suất, dòng vốn và tỷ giá, tạo áp lực lớn đối với các nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam. Ở trong nước đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ trong năm 2026 mà còn trong cả giai đoạn 5 năm tới. Mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh áp lực lạm phát lớn đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là yêu cầu vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
"Đây là mục tiêu kép mà trong điều hành chính sách thường được ví như bài toán “bộ ba bất khả thi”. Do đó đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác", ông Phạm Chí Quang nhìn nhận.
Ở góc độ chuyên gia, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi) cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, nền kinh tế cần nguồn vốn rất lớn cho đầu tư phát triển. Trong đó, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là tăng lượng vốn bơm ra nền kinh tế mà còn phải nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và thị trường.
Thực tế cho thấy, dù thanh khoản hệ thống ngân hàng hiện khá dồi dào nhưng không ít doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm, thị trường tiêu thụ chưa ổn định hoặc năng lực tài chính còn hạn chế. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng tín dụng, cần đồng thời tháo gỡ những “nút thắt” về thể chế, thủ tục đầu tư, thị trường bất động sản, và môi trường kinh doanh để đồng vốn phát huy hiệu quả cao nhất.
Một trong những yêu cầu được đặt ra hiện nay là phải bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Nếu chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ vốn và điều tiết lãi suất, thì chính sách tài khóa cần thúc đẩy đầu tư công, kích cầu tiêu dùng và tạo động lực cho sản xuất. Sự phối hợp nhịp nhàng này sẽ vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh những kết quả tích cực, áp lực đối với ngành Ngân hàng trong thời gian tới vẫn rất lớn. Tăng trưởng tín dụng cao luôn đi kèm với nguy cơ gia tăng nợ xấu nếu dòng vốn không được kiểm soát chặt chẽ. Trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, sức ép tỷ giá, lạm phát và lãi suất quốc tế vẫn hiện hữu, việc điều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi sự linh hoạt, thận trọng nhưng cũng phải đủ quyết liệt để hỗ trợ tăng trưởng.
Các chuyên gia cho rằng, thay vì mở rộng tín dụng bằng mọi giá, cần hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất thực, dự án có hiệu quả và doanh nghiệp có khả năng phục hồi tốt. Đồng thời, cần tăng cường giám sát rủi ro, xử lý nợ xấu và nâng cao chất lượng quản trị của các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Việc khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành Ngân hàng mà cần sự phối hợp của nhiều bộ, ngành và địa phương. Khi các “điểm nghẽn” về thủ tục đầu tư, pháp lý dự án, giải ngân đầu tư công và môi trường kinh doanh được tháo gỡ đồng bộ, dòng vốn tín dụng sẽ phát huy hiệu quả, tạo sức bật cho tăng trưởng kinh tế.
Nguồn: https://hanoimoi.vn/mo-mach-von-tin-dung-tao-suc-bat-cho-tang-truong-kinh-te-750399.html







Bình luận (0)