Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Mở rộng về Nam

Hành trình mở cõi về phương Nam, kiến tạo bởi tầm nhìn chiến lược của các triều đại từ Trần, Hồ, Lê đến chúa Nguyễn đưa xứ Quảng trở thành trung tâm then chốt. Nơi đây không chỉ hội tụ các dòng di dân mà còn thu hút thương nhân quốc tế, in đậm dấu ấn trong tiến trình hình thành lãnh thổ Việt Nam.

Báo Đà NẵngBáo Đà Nẵng10/02/2026

chua_cau_vov__7__bhab.jpg
Mùa xuân 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu đến phố Hội An, nhân thấy phía tây có cầu, là nơi thuyền buôn tụ họp, nên đặt tên là cầu Lai Viễn với ý nghĩa là “Cầu đón khách phương xa” và cũng với tên gọi này chúa đã tỏ rõ ý kêu gọi các thương nhân nước ngoài đến Hội An buôn bán. Hiện tại, trên cửa chính của chùa trong cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán “Lai Viễn Kiều”.

Năm 1602, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đặt dinh Quảng Nam và sai hoàng tử thứ 6 làm trấn thủ (với vai trò tập sự để nối ngôi chúa). Lúc lâm chung, chúa Tiên chúc phó hoàng tử thứ 6 Nguyễn Phúc Nguyên: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng”.

Tiền nhân nam tiến

Với chính sách di dân của các vị minh quân, lần lượt các dòng tộc phía bắc đã nam tiến, hình thành làng xã ở đất Quảng. Quá trình hình thành làng xã người Việt ở đây diễn ra từ dưới thời nhà Trần. Điều này được ghi lại trong các bộ sử tịch nhà nước cũng như những văn bản hành chính hay văn bản dân gian khác.

Văn bia nhà thờ họ Phan làng Phong Thử thời Tự Đức thứ 13 (1861) đã ghi lại sự việc ông thủy tổ vào năm Quang Hòa thứ 15 triều Lê (?), lúc 43 tuổi, khâm phụng lời dụ “khai thác đất Nam, đưa dân vào ở, tổ chức khai canh” của nhà vua, đã dắt vợ con vào Quảng Nam, vui mừng chọn lựa vùng đất Phong Thử, thực hiện quy dân, lập ấp, khẩn canh. Văn bia 6 tộc Nguyễn, Thân, Đỗ, Cung, Trần Ngô ở xứ đất Nhà Cu/Câu thời Thành Thái năm Tân Sửu (1901) cũng nhắc đến việc các ông thủy tổ đã khai khẩn vùng đất nơi đây.

Văn bia đình làng Bất Nhị lập năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) cho biết quá trình hình thành làng xã nơi đây. “Xưa xã ta vốn có 9 tộc họ cùng xây dựng địa phận làm thành xã Bất Nhị, đất đai mở rộng, dân đinh thêm đông, làm nên 3 thôn Thai La, Đan Điền, Bình Trị trong xã Bất Nhị”. Sách Ô Châu cận lục thế kỷ 17 đã nhắc đến địa danh làng xã Bất Nhị: “tỏ lòng trung thực”.

Hô
Văn hóa truyền thống luôn được bảo tồn tại xứ Quảng. Ảnh: Phan Vũ Trọng.

Dấu ấn mở cõi thể hiện ở các tộc tiền hiền trong làng xã. Văn bia ở Bàn Thạch lập năm Khải Định thứ 2 (1917) đã ghi các họ trong giáp Đông xã Bàn Thạch như: Nguyễn, Vũ, Lê, Phan, Đỗ, Trần, Vương, Hoàng, Lương, Mai, Diệp, Phan có lập đền thờ tiên hiền và ghi tên các vị tiên hiền của từng họ được thờ ở đền.

Văn bia mộ họ Trương Đức ở Lang Châu ghi: “Ngài Trương quý công (vốn) trước (là) người miền Bắc di cư vào Nam (vào) thời Trần, khai thác đất này lập (nên) xã hiệu, tụ họp dân đến ở đây, tên là thôn Nam Cương. Tụ cư sinh sống, giáo huấn được vài năm đổi tên là thôn Lang Châu”.

Tộc họ đến trước giúp đỡ tộc họ đến sau. Bia ghi công đức họ Lê cùng địa bàn với tấm bia vừa nêu đã ghi: “Họ Lê người đầu tiên sang sinh cơ lập nghiệp ở Lang Châu, thuộc tỉnh Quảng Nam nước ta. Ông đến sinh sống trên đất phương Nam được Trương quý công người lập làng đầu tiên tận tình giúp đỡ như anh em ruột”.

“Lai viễn” tụ hội

Đất Quảng là trung điểm và cũng là tâm điểm của Việt Nam, theo trục bắc nam; là điểm kết nối các quốc gia lục địa với các quốc gia hải đảo, tạo thành điểm trung chuyển của khu vực, theo trục hành lang đông tây. Với vị trí địa lý thuận lợi, cộng tầm nhìn chiến lược của các vị minh quân, chính sách thu phục nhân tâm, thu hút ngoại giới của các chúa Nguyễn đã làm cho xứ Quảng trở thành đất lành chim đậu.

Hình ảnh tấp nập thuyền buôn quốc tế ở cửa biển Đà Nẵng đương thời được vua Lê Thánh Tông bút họa vào câu thơ “Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền”. Lộ Hạc chỉ tên nước xưa thuộc Đông Nam Á hải đảo ngày nay.

Năm 1523, người Bồ có tên Duarte Coelho đã đến nước ta để điều đình thông thương. Nhưng thời điểm này tình hình chính trị xã hội Đại Việt phức tạp, rối loạn vì liên quan đến Mạc Đăng Dung, do vậy việc điều đình thông thương không có kết quả. Ông lần xuống phía Nam và dừng chân ở đất Quảng vào năm 1524.

Năm 1535, thuyền trưởng tàu Albuquerque là Antonio da Faria (người Bồ) đã neo đậu ở cửa biển Đà Nẵng để nghỉ ngơi và thăm thú vùng đất này vài ngày. Ông xem Hội An như là một trung tâm mậu dịch và hàng hải quan trọng của người Bồ. Người Anh cũng lui tới đất Quảng từ năm 1613. Người Hà Lan có lập thương điếm ở Hội An vào đầu năm 1636.

Mùa xuân 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu “đi thăm dinh Quảng Nam, duyệt binh mã, rồi đến phố Hội An, nhân thấy phía tây phố có cầu, là nơi thuyền buôn tụ họp, nên đặt tên là cầu Lai Viễn, viết chữ biển vàng ban cho”.

Bức tranh “Đài trấn Hải buồm thuyền như dệt, cầu Lai Viễn xe ngựa thường qua” trong Quảng Nam tỉnh phú vẫn quen thuộc cho đến tận ngày nay. Cầu Lai Viễn với hàm ý tư tưởng sâu xa đã ghi dấu quan trọng về vai trò của Quảng Nam trong hành trình mở cõi.

Nguồn: https://baodanang.vn/mo-rong-ve-nam-3323824.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Em trồng cây

Em trồng cây

Giải phóng Miền Nam

Giải phóng Miền Nam