
Cán bộ biên phòng giúp bà con người Mông ở bản Suối Lóng, xã Tam Chung thu hoạch sắn.
Khi chính sách chưa "chạm" bản xa
Hơn mười năm trước, theo đoàn công tác ngược lên các xã biên giới của huyện Mường Lát cũ, chúng tôi còn nhớ như in con đường độc đạo men theo sườn núi - hễ mưa là sạt, đất đỏ nhão ra như bùn, xe cứ trượt bánh lết từng đoạn. Đến nơi thì trời đã nhá nhem, bản làng chỉ lác đác vài ngọn đèn dầu leo lét giữa lưng chừng rừng núi. Một đồng nghiệp đi cùng thở dài “Cuộc sống bà con vùng biên nghèo từ cái đường đến thứ ánh sáng tối thiểu nhất”.
Trong chuyến công tác ấy, chúng tôi ghé thăm Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý. Quanh khuôn viên trường, những lán trọ dựng tạm bợ, nơi học sinh ở lại vì đường về bản xa hàng chục cây số. Bữa ăn của các em chỉ cơm trắng với rau rừng. Nhìn những đứa trẻ gầy gò quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không ai trong đoàn kìm được cảm xúc. Thầy Đoàn Văn Sơn, nguyên hiệu trưởng nhà trường kể về chuyện học sinh bỏ học giữa chừng bằng giọng trầm của người đã quen chứng kiến mà vẫn không thôi day dứt: "Tỷ lệ học sinh nữ người Mông đến trường học rất ít. Điều kiện kinh tế quá khó khăn là lý do lớn nhất cản bước chân các em". Câu nói ấy cứ đọng lại trong chúng tôi mãi, bởi phía sau những mái nhà tối đèn năm ấy không chỉ là cái nghèo trước mắt, mà còn là tương lai chông chênh của những đứa trẻ vùng biên.
Lần trở lại này, vẫn tuyến đường cũ, vẫn người đồng nghiệp năm ấy, nhưng diện mạo nơi đây đã khác. Con đường nhựa phẳng lì, rộng đủ để hai xe ô tô tránh nhau thoải mái. Đèn năng lượng mặt trời thắp sáng từ đầu đến cuối bản. Nhà văn hóa vang tiếng sinh hoạt chi bộ của các đảng viên. Trong mỗi gia đình, góc học tập của con trẻ không còn cảnh leo lét ánh đèn dầu không đủ sáng. “Có đường, có điện là thấy sự ấm no!”, người đồng nghiệp thủ thỉ. Chúng tôi hiểu, để có được sự đổi thay ấy là cả một hành trình đầy gian nan mà không phải ai cũng biết.
Những năm trước đó, bản làng biên giới không chỉ nghèo vì thiên nhiên khắc nghiệt hay đất sản xuất ít. Điều day dứt hơn là dù chính sách của Đảng, Nhà nước đã có, nguồn lực hỗ trợ đã về đến bản, nhưng ở những nơi xa xôi, hẻo lánh nhất, việc chuyển hóa thành cuộc sống thực tế của bà con vẫn là bài toán chưa có lời giải trọn vẹn. Bà con vẫn loay hoay trong một vòng luẩn quẩn, không biết bắt đầu thay đổi từ đâu. Già làng Hơ Chứ Hơ, nguyên trưởng bản Cá Nọi, xã Pù Nhi lặng im một quãng dài rồi nói thật bình thản: "Cán bộ lên với bà con thì nhiều lắm. Nhưng khi cán bộ về, bà con lại đâu vào đó. Bản làng vẫn vậy". Câu nói không có gì oán trách, chỉ là nỗi trăn trở của một người già từng chứng kiến bao năm bản làng chật vật. Chúng tôi hỏi ông - bà con có tin vào các chính sách hỗ trợ không?. Ông gật đầu: "Có chứ! Nhưng bà con không sáng cái dạ, trồng cây gì, nuôi con gì cũng không thành công. Thậm chí có nhà được hỗ trợ rồi lấy tiền mua rượu uống hết". Đó không phải lời trách cứ ai, mà là thực tế đặt ra một câu hỏi lớn: làm thế nào để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, thay đổi được cả nếp nghĩ, nếp làm của bà con?
Và người lính chọn ở lại
Mãi sau này, ngồi gỡ lại những băng ghi âm từ những chuyến công tác nơi vùng biên, chúng tôi mới vỡ ra: không phải chính sách hay nguồn lực còn thiếu, mà điều cần thêm là một sự hiện diện đủ lâu, đủ kiên nhẫn để chuyển hóa chủ trương thành hành động cụ thể trong từng nếp nhà, từng thửa nương - để người dân tin rằng lần này sẽ khác. Và chính từ nhận thức đó, trong hành trình chung của cả hệ thống chính trị, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa đã góp thêm cách làm của mình: không bắt đầu bằng một kế hoạch mới, mà bắt đầu bằng quyết định ở lại.

Các bản biên giới thuộc huyện Mường Lát cũ một thời nghèo khó với những mái nhà chênh vênh, hạ tầng thiết yếu chưa có. (Ảnh: Tư liệu)
Thiếu tá Nguyễn Văn Thiện, Chính trị viên Đồn Biên phòng Trung Lý vẫn nhớ như in đêm đầu tiên ngủ lại bản cách đây hơn mười năm, khi còn công tác ở Đồn Biên phòng Tam Chung. Khi ấy, bản chưa có điện, không sóng điện thoại, muỗi vo ve suốt đêm. Sáng ra, các già làng nhìn anh dò xét rồi hỏi: “Hôm nay anh còn ở không?”. Anh gật đầu. Bà con không nói gì, chỉ lặng lẽ lấy thêm cho anh một bát cơm, gắp một con cá suối kho mặn.
Đêm đầu tiên ấy, anh nghe nhiều, trăn trở nhiều. Già làng kể: chính sách hỗ trợ không thiếu, nhưng tâm lý trông chờ, ỷ lại vẫn phổ biến. Điều bà con cần hơn cả là có người ở lại, cầm tay chỉ việc, hướng dẫn từng bước để tự lo được cuộc sống của mình. Câu nói của già làng đêm đó: “Bà con biết trồng cây gì, nuôi con gì thì nhà nước cũng không cần phải hỗ trợ mãi nữa” đã theo anh Thiện suốt hơn mười năm qua như một lời nhắc.
Những lần sau, anh xuống bản nhiều hơn, ở lại lâu hơn. Có những đợt công tác kéo dài cả tuần trong bản xa, cán bộ biên phòng ngủ trong những căn nhà sàn vách nứa hở gió, mái dột nước mỗi khi mưa xuống. Sáng tinh mơ, các anh cùng bà con lên nương, lội bộ hàng giờ vượt dốc đá, băng suối vào tận khu sản xuất. Không chỉ tuyên truyền bằng lời nói, cán bộ biên phòng còn trực tiếp cùng dân đào ao, thả cá, dựng chuồng trại, hướng dẫn nuôi vịt giống, bò sinh sản, trồng ngô, trồng sắn. Có những hôm mưa lớn, các anh cõng từng bao giống cây vượt suối vào bản cho dân kịp mùa vụ. Nhiều cán bộ còn thuộc tên từng học sinh bỏ học giữa chừng, tối đến lại men theo đường núi vào từng nhà vận động các em quay lại lớp.
Chính từ những việc làm bình dị ấy, khoảng cách giữa cán bộ với người dân dần được xóa nhòa. Người dân vùng biên bắt đầu tin: lần này cán bộ không chỉ đến rồi đi, mà thực sự ở lại để cùng thay đổi cuộc sống. Đó không phải là một dấu mốc được ghi trong báo cáo, nhưng lại là sự khởi đầu cho hành trình mười năm của Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa.
Từ năm 2015, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh triển khai đồng bộ nhiều mô hình, chương trình tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực biên giới. Điều tạo nên sự khác biệt không chỉ nằm ở nghị quyết hay nguồn lực hỗ trợ, mà ở cách người lính biên phòng trực tiếp xuống bản, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân theo đúng nghĩa của từng chữ. Thiếu tá Nguyễn Văn Thiện nói với chúng tôi một câu ngắn gọn nhưng bao hàm tất cả mục đích của hành trình ấy: "Bà con no ấm thì biên cương vững bền. Khi bà con tin yêu cán bộ thì bà con cũng chính là người chiến sĩ bảo vệ biên cương".
Dọc 213km đường biên đất liền, nơi đâu cũng có dấu chân người lính biên phòng, với phương châm xuyên suốt: “Muốn bản sáng lên, trước tiên phải thắp sáng niềm tin của người dân”. Niềm tin ấy không đến từ những giấy tờ khô khốc, mà nó được vun đắp từng ngày, từ những bữa cơm chung, những đêm ngủ lại trong bản, và những buổi sáng cùng bà con lên nương.
|
Khu vực biên giới đất liền tỉnh Thanh Hóa có hàng trăm thôn, bản, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 97% dân số. Những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa (nay là Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa) đã ban hành nhiều kế hoạch, nghị quyết góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới; giảm nghèo bền vững; xây dựng “Đơn vị dân vận tốt”, “Dân vận khéo”; xây dựng mô hình điểm “Bản sáng vùng biên”... Điểm chung của các chương trình không chỉ nằm ở hỗ trợ nguồn lực, mà hướng đến thay đổi nhận thức, khơi dậy nội lực trong Nhân dân. |
Ngân Hà - Đình Giang
Bài 2: Mùa của sự no ấm
Nguồn: https://baothanhhoa.vn/muoi-nam-thap-lua-bien-cuong-bai-1-khoi-dau-tu-niem-tin-289338.htm









Bình luận (0)