Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Nghĩ về cô - một người truyền lửa

Chẳng hiểu sao khi đặt bút viết những dòng đầu tiên, trong ngổn ngang những kí ức, vào một dịp trọng đại, sau 40 năm bước chân vào giảng đường đại học, bắt đầu một hành trình “vừa như duyên, vừa như nợ” với nghề cầm bút và cầm phấn của mình, hình ảnh đầu tiên sống dậy trong tôi lại là một khoảnh khắc, ngắn thôi, nó vút qua như một thoảng gió nhưng để lại nhiều dư âm thi vị. Đó là phút giây tôi cầm trên tay tập thơ mỏng mảnh, nhỏ xinh, có tên gọi khá thú vị-tập thơ “Xin đừng té nước vào em” của nhà thơ, nhà giáo Trần Thị Việt Trung (bút danh Vân Trung). Đúng hơn, đó là khi tôi đọc Lời giới thiệu tập thơ này của cố nhà thơ Hà Đức Toàn, khi đó đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bắc Thái, vào cuối thập niên 80 của thế kỉ trước. Tôi còn nhớ như in một đoạn: “thơ Vân Trung là như thế, khao khát mà kín đáo, mãnh liệt mà dịu dàng, khổ đau mà lạc quan…Đó là chất men vừa đắng vừa ngọt- chất men Trần Thị Vân Trung”. Bây giờ, sau quãng thời gian đằng đẵng quá nửa đời người, tôi càng nhận ra và quả quyết, đó là một nhận xét trúng nhất, đúng nhất về thơ và người của cô giáo tôi- nữ sĩ Trần Thị Vân Trung.

Báo Thái NguyênBáo Thái Nguyên28/05/2026

Một số cuốn sách của PGS.TS, nhà thơ Trần Thị Việt Trung

1. Bắt đầu những mối lương duyên

Thật ra, tôi biết đến tên cô Vân Trung đã từ rất lâu, khi tôi còn là một cậu thanh niên choai choai mới bắt đầu bước vào bậc phổ thông trung học. Khóa chúng tôi là năm đầu chuyển từ lớp 8 (lớp cuối bậc trung học cơ sở) bước vào lớp 10 bậc phổ thông trung học mà không phải qua học lớp 9 như bây giờ. Tôi học cùng khóa với Tám Thân, là em út trong gia đình cô Trung. Chính vì thế mà tôi được qua lại nhà cô nhiều. Dĩ nhiên, chưa có cơ hội nào được tiếp xúc với cô. Ấn tượng về cô chỉ là bức hình cô và cậu em trai mang quân phục sĩ quan quân đội được chụp tại đất nước Campuchia. Khi đó, cô đang là chuyên gia giáo dục trên nước bạn. Có một sự tình cờ lí thú là em trai của cô (anh của Tám Thân), một sĩ quan quân đội cũng đang làm nhiệm vụ Quốc tế tại đây. Bức ảnh là một khoảnh khắc rất đẹp ghi lại một sự hội ngộ đầy ý nghĩa. Ấn tượng ban đầu của tôi là cô trẻ và rất xinh với mái tóc dài buông xõa và đôi mắt ánh lên sự tinh anh, vừa thông minh vừa mơ mộng. Chỉ thế thôi. Mãi sau này, khi tôi học đại học năm thứ hai cũng là lúc cô hoàn thành nhiệm vụ trở về và tiếp tục hành trình đầy đam mê của một cán bộ giảng viên trẻ trên giảng đường đại học. Cô dạy chúng tôi về Văn học lãng mạn 30-45, chuyên sâu về mảng Thơ Mới. Cần nói thêm là thế hệ chúng tôi, học phổ thông những năm 70, đầu 80 ở miền Bắc, hầu như chưa có ai được biết đến Thơ Mới. Chúng tôi có thể thuộc nằm lòng những bài thơ của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng, thơ chống Pháp (trừ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Tây Tiến của Quang Dũng và cả Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm.., lúc bấy giờ những bài này cũng chưa được đánh giá lại và chưa được đưa vào trong các sách giáo khoa), thơ chống Mỹ; thậm chí trong bài thi học sinh giỏi cấp tỉnh, tôi còn phân tích, cảm thụ bài thơ Điểm tựa của Lê Đức Thọ, một bài thơ đầy tính thời sự mà hầu hết giáo viên dạy chúng tôi lúc ấy, còn không mấy ai biết được. Thế nhưng, tôi lại mới chỉ được nghe qua một vài câu trong những bài thơ nổi tiếng như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Vội vàng của Xuân Diệu chứ đừng nói đến Nguyễn Bính hay Hàn Mặc Tử cũng như các nhà Thơ Mới khác. Còn nhớ, khi đang ôn thi đội tuyển học sinh giỏi quốc gia, một lần tôi được thầy giáo đọc cho nghe mấy câu của Lưu Trọng Lư: Mưa mãi mưa hoài/Lòng nhớ thương ai/ Trăng lặn về non không trở lại/Mưa chi mưa mãi/Lòng nhớ nhung hoài/Nào biết nhớ nhung ai… Khỏi phải nói, cảm giác một người đã quá quen với thứ “yêu, căm, chiến, lạc”, giờ được chén món khoái lạ là thơ lãng mạn, nó phiêu như thế nào. Nhưng nài nỉ đến mấy, thầy vẫn nhất quyết không chịu đọc. Tôi đành rình lúc giải lao, lén mở cặp sách của thầy, quyết tìm bằng được cái “kho” thơ ấy. Hỡi ôi, vẻn vẹn chỉ có độc nhất mấy câu, cũng là thầy lấy được ở đâu đó. Chứ những thứ còn lại đều toàn món “cách mạng” cả, tuyệt không thấy câu nào tương tự. Tôi thèm Thơ Mới từ ngày đó, cho đến khi được học cô.

PGS - TS nhà giáo Trần Thị Việt Trung.

Cuốn sách đầu tiên tôi được đọc từ cô về Thơ Mới cũng không phải là cuốn Thi nhân Việt Nam mà ai cũng biết (dù đến lúc đó tôi vẫn chưa được đọc), mà là cuốn sách khá đặc biệt, tôi vẫn còn nhớ những chữ trên trang bìa: “Việt Nam thi nhân tiền chiến, quyển thượng, ấn bản kì nhì, Sống Mới xuất bản, Sài Gòn, 1968”. Cuốn sách ra đời đúng vào năm sinh của tôi. Khỏi phải nói, tôi sung sướng như thế nào với cuốn sách đó. Trong một tuần, tôi ngồi lì trên thư viện với cuốn vở học trò, ghi chép lại cẩn thận cả tập thơ, từng bài thơ cho đến cả lời tựa, lời bạt. Tôi biết đến Chế Lan Viên “đột ngột xuất hiện giữa làng thơ như một niềm kinh dị”; tôi biết đến Nguyễn Bính “một tài năng thiên bẩm tuyệt vời, một nỗi buồn trong suốt của hồn quê” và cả một bầu trời Thơ Mới. Và dĩ nhiên, tôi dành cho cô một sự ngưỡng mộ quá đỗi. Cô như ở một phương trời nào, xa lạ mà rực rỡ, đến với chúng tôi- những sinh viên ở cái giảng đường đại học xa xôi này. Ngưỡng mộ hơn nữa là cô cũng làm thơ, giống như tôi, cũng đã làm thơ từ những năm cuối bậc phổ thông cơ sở. Những bài thơ đầu tiên tôi được đăng ở báo Quân Khu Một, được đọc trong chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng Nói Vệt Nam, chịu ảnh hưởng nhiều từ Thơ Mới, và có thể, có một phần nào đó từ cô nữa.

2. Hành trình của sự đồng hành

Tôi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Việt Bắc vào năm 1989, có một quãng ngắn vào dạy học tận xa tít Lộc Ninh- Sông Bé rồi về tình nguyện đi Ánh sáng Văn hóa tại một bản người Mông, rồi dạy phổ thông, rồi chuyển cơ quan. Cứ thế, cho đến tận 40 tuổi tôi mới đi học Cao học. Và lại được gặp cô. Cô dạy một học phần. Và dường như không có bất cứ một do dự hay lựa chọn nào khác, tôi đăng kí xin được cô hướng dẫn làm luận văn thạc sĩ. Hôm gặp cô để trao đổi, cô gợi ý, rằng tôi có lợi thế gắn bó và am hiểu về dân tộc Mông, theo cô, tôi nên tập trung nghiên cứu theo hướng văn học các dân tộc thiểu số. Khi đó, quả thật cũng chưa có nhiều người theo hướng này. Tôi chọn nghiên cứu về văn học dân tộc Mông, đặc biệt là thơ ca Mông. Hóa ra mấy năm tình nguyện đi Xóa mù chữ của tôi cũng không lãng phí. Với vốn trải nghiệm thực tiễn với đồng bào, giờ lại có thêm cơ hội để đọc sâu về dân tộc Mông, tôi thực sự hứng thú với đề tài này. Luận văn được bảo vệ xuất sắc. Tôi được chuyển tiếp (miễn thi đầu vào) học nghiên cứu sinh. Khi đó do hoàn cảnh gia đình và công việc, tôi không thể đi Hà Nội học được. Tôi đề đạt nguyện vọng muốn được cô hướng dẫn và cô đồng ý. Hình như tôi là NCS ngành văn duy nhất tại Thái Nguyên chỉ có một cán bộ hướng dẫn. Điều đó cũng là do có được sự thông cảm và tạo điều kiện hết mức từ phía cô. Cô luôn tạo cho học trò cảm giác được tự chủ trong nghiên cứu khoa học. Được sự quan tâm, động viên, và cả khuyến khích của cô, tôi đã hoàn thành luận án trước thời hạn. Cô là người chỉn chu trong nghiên cứu. Trong hoàn cảnh vừa viết luận án, vừa tham gia giảng dạy đại học, lại vừa làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, vừa viết báo, in sách, nhiều lúc, tôi đắm vào những quẩn quanh, chồng chất công việc bởi thiếu tính khoa học. Cô là người cởi bỏ những khó khăn, vướng mắc đó cho tôi một cách vừa thiện tâm, vừa tài tình. Có lẽ do trước đây cô đã từng làm đến Trưởng ban Khoa học và Công nghệ của Đại học Thái Nguyên, sau này lại làm Giám đốc Nhà Xuất bản Đại học Thái Nguyên, nên biên tập vốn là nghề cô rất thông thạo. Trong nhiều vấn đề được cô chỉ bảo, tôi nhớ và thấm thía nhất là việc thu thập và trích dẫn tài liệu. Theo cô, đã trích dẫn từ tài liệu nào thì nên cố gắng có cho bằng được tài liệu đó, lưu giữ cẩn thận để khi cần thiết, còn có thể được sử dụng để đối chứng. Trong nghiên cứu khoa học, không bao giờ được phép đạo văn của người khác, dù ít dù nhiều. Liêm chính khoa học là điều kiện tiên quyết, bắt buộc phải có của một người nghiên cứu. Tôi học được nhiều từ cô về điều đó. Sau này, khi chứng kiến nhiều những lùm xùm trong nghiên cứu của một số đồng nghiệp, tôi mới càng thấu hiểu điều đó một cách sâu sắc.

Tôi và cô đều là những cựu sinh viên khoa Văn. Khi tôi về dạy tại khoa thì cô đã chuyển sang làm công tác quản lí tại Nhà Xuất bản. Cô trò thường xuyên gặp nhau trong các dịp thỉnh giảng hoặc ngồi các Hội đồng chấm luận văn. Cô vẫn thế, lúc nào cũng vui vẻ, phóng khoáng nhưng cũng rất nghiêm túc, đòi hỏi học viên phải học thật. Cô sẵn sàng bỏ ra hằng ngày, thậm chí hằng tuần, để giúp đỡ một học viên chỉnh sửa, bổ sung luận văn sau khi bảo vệ. Đôi khi, đó chỉ là những học viên được cô phản biện, chứ không phải là cán bộ hướng dẫn. Đơn giản, là để các bạn ấy có một sản phẩm “sạch sẽ nhất” để làm tài liệu tham khảo cho các thư viện. Đó cũng là cách để cô giúp đỡ người học, cả những thế hệ tiếp sau.

3. Đam mê viết và đam mê sống

Vào Hội Nhà văn Việt Nam với tư cách là một nhà phê bình, cô Vân Trung chưa bao giờ thôi sáng tác, đặc biệt là thơ, suốt từ khi cô còn là một nữ sinh khoa Văn thuở nào. Những bài thơ như “Hoa bất tử”, “Gửi chàng thi sĩ Thánh Tông” tôi đã đọc và đặc biệt ấn tượng khi còn là sinh viên. Khóa chúng tôi có nhiều người theo nghiệp viết. Riêng lớp tôi (K20) cho tới hiện giờ đã có đến 3 nhà văn (là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) có lẽ cũng là một kỉ lục mà trong suốt 60 năm kể từ khi thành lập Trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên), cũng khó có khóa/lớp nào có được.

Cô Vân Trung giao thiệp rộng. Điều này cũng một phần do cô được sinh ra trong một gia đình trí thức. Sau này, phu quân của cô, Nghệ sĩ Ưu tú Ngô Đình Thành, cũng là một người quảng giao như thế. Nhà cô không lúc nào không rực rỡ những chậu/lọ hoa tươi. Ngày lễ Tết thì khỏi nói, hoa ngập tràn từ sân vào trong nhà, ngập tràn phòng khách. Cô duy mĩ. Điều đó thể hiện qua từ cách kê biện, trang trí phòng làm việc tại cơ quan đến cách ăn mặc và lối sống, sinh hoạt của cô. Chỉn chu từng nét chữ khi sửa lỗi cho học trò, đến cách ứng xử với bạn bè, đồng nghiệp. Gần cô luôn có cảm giác của một sự thoải mái nhưng chưa bao giờ là tùy tiện. Trái lại, cô luôn tạo cho mọi người, trong mọi hoàn cảnh, một sự sang trọng. Đó là sự sang trọng thuần trí thức, không khoe mẽ, những vẫn khiến người ta phải vị nể, và trân quý.

Hình như, từ khi tôi biết cô, chưa bao giờ thấy cô ta thán, kêu ca gì về việc dạy học và nghề dạy học của mình. Cái nhìn và quan điểm của cô vượt lên trên những cái nhỏ nhen, đố kị vốn nhan nhản trong xã hội và cả chốn học đường. Nhìn về phía niềm vui là cách để cô tích lũy và tái sinh năng lượng sống.

Cô sinh năm Bính Thân, hơn tôi vừa tròn một giáp. Điều thú vị là cô bước vào tuổi “thất thập cổ lại hy” lại đúng vào năm trường tôi (cũng mãi là trường của cô) đón chào kỉ niệm 60 năm thành lập. Một niềm vui lớn trong một ngày ý nghĩa. Với chúng tôi, cô chưa bao giờ có khái niệm “tuổi già”, lúc nào cũng tươi vui, phơi phới.

Với tôi, cô bao giờ cũng là một nghệ sĩ- nghệ sĩ của cái đẹp luôn song hành với những đam mê.

Vinh dự và tự hào khi tôi được là một trong những học trò của cô-Nhà giáo Ưu tú, PGS.TS. Nhà thơ Trần Thị Vân Trung- người truyền lửa cho các thế hệ học trò.

Thái Nguyên, mùa thi năm 2026

Nguồn: https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/202605/nghi-ve-co-mot-nguoi-truyen-lua-0f3310f/


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Ra chợ

Ra chợ

đi cấy mạ

đi cấy mạ

Xuân yêu thương

Xuân yêu thương