Đánh giặc giữ làng
Bà Lê Thị Nga sinh năm 1948, quê quán Điện Xuân (nay là xã Điện Bàn Tây, thành phố Đà Nẵng) sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha bà là ông Lê Anh, thoát ly gia đình tham gia bộ đội chủ lực, mẹ ở nhà làm cơ sở hoạt động bí mật. Năm 16 tuổi, Lê Thị Nga ý thức được rằng “phải tham gia cách mạng, cầm súng chiến đấu để giữ làng, giữ đất”, vậy là bà tham gia du kích xã Điện Hồng, được anh em du kích xã huấn luyện cách dùng vũ khí đánh địch, rồi tham gia các trận đánh tại địa phương. Năm 1966, Huyện đội Điện Bàn chủ trương tuyển quân, bà tình nguyện nhập ngũ, được biên chế về đơn vị Q82.
Trận chiến đầu tiên bà tham gia là đánh vào lao xá Vĩnh Điện, giải phóng những tù nhân là chiến sĩ cách mạng bị bắt đưa về đây tra tấn. Trong trận đánh này bà Nga bị thương, điều trị dưỡng thương mấy ngày lại tiếp tục tham gia chiến đấu và giữ các chức vụ A phó, A trưởng tại Huyện đội. Năm 1968, được tin đơn vị biệt động thành Lê Độ về chọn nữ để tham gia tác chiến trong nội thành Đà Nẵng, bà xin chỉ huy đơn vị Q82 cho gia nhập. Tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ tại Đà Nẵng và các quận giáp ranh, bằng sự mưu trí, lanh lợi và bản lĩnh qua các trận đánh, tháng 5/1968 bà Nga được Chi bộ quận 2, Đảng bộ Đà Nẵng kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bà Nga kể: Hồi đó Đại đội biệt động Lê Độ đưa quân đánh Ty cảnh sát Gia Long. Đơn vị chia quân làm nhiều mũi tiến công. Cơ sở được cài cắm kỹ lưỡng, mình cải trang hợp pháp với giấy tờ mang tên Nguyễn Thị Hoàng, quê Điện Tiến cùng anh em vào nhà cơ sở cạnh ty cảnh sát chờ nhận vũ khí chiến đấu. Thật không may là mũi của tôi bị tuột vũ khí khi vận chuyển, còn mũi do đồng chí Nguyễn Đình Tham, Đại đội trưởng chỉ huy bị lộ và bị bắt. Trước tình thế này, anh em bàn với nhau rút lui để tránh tổn hao lực lượng.
Anh em trong mũi chia nhau ra mỗi tốp 2 người, cải trang hợp pháp lẫn vào nhà dân. Tôi đi ra chợ Cồn đón xe lam ba bánh về Vĩnh Điện, trên xe chở 6 người, đi từ Đà Nẵng về vừa bước xuống bến xe Vĩnh Điện thì cảnh sát bắt tôi và một người đi cùng xe đưa về lao xá Vĩnh Điện. Dù địch dùng nhiều thủ đoạn nhưng bà Nga vẫn kiên trung không khai bất cứ điều gì. Chúng tiếp tục đưa bà xuống nhà lao Hội An tra tấn dã man. Bọn chúng thả rắn vào người, trói tay rồi dùng kim chích hết mười đầu ngón tay. Dù đau đớn nhưng tôi vẫn cắn răng chịu nhục hình quyết không khai.
Ám ảnh “chuồng cọp”
Từ nhà lao Hội An, chúng đưa bà Nga ra nhà lao Non Nước, gặp bọn phòng Nhì tra tấn đòn roi, chích điện… nhưng không khuất phục được ý chí của người nữ biệt động thành Lê Độ. Sau đó, chúng đưa bà Nga vào trại giam Phú Tài - Quy Nhơn.
Trại giam nằm giữa thung lũng sâu trên núi, một vùng đất có hình lòng chảo, bao bọc chung quanh là các núi đá của dãy Trường Sơn đoạn qua Quy Nhơn, Bình Định. Trước năm 1967, đây là khu nghĩa địa rộng 200 nghìn mét vuông, từ khi đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đến lập đồn khu trú, chúng đã san bằng khu nghĩa địa để làm căn cứ quân sự và sử dụng một phần diện tích để xây dựng trại giam. Dân ở đây thường gọi là “Thung lũng muối” còn chính quyền Sài Gòn lúc đầu gọi “Trại giam phiến cộng Quy Nhơn” sau đổi tên gọi “Trại giam nữ tù binh Cộng sản Việt Nam”, cơ sở cách mạng gọi tắt là trại giam Phú Tài.
Bà Lê Thị Nga cho hay: “Để thực hiện âm mưu hủy hoại thể xác, tinh thần, làm tê liệt ý chí đấu tranh của các nữ tù binh, địch dùng mọi thủ đoạn tàn ác, xảo quyệt. Lần lượt chúng dùng các hình thức như: bỏ đói tù binh nhiều ngày liên tiếp nếu không chịu chiêu hồi; bắt “thụt dầu” dưới trời nắng cho đến khi ngất xỉu; phơi nắng, đổ nước ớt, nước xà phòng vào mũi, miệng rồi dẫm chân lên bụng, lên ngực; nhốt vào biệt giam chuồng cọp… tôi cùng chị em trải qua hết. Vượt lên nỗi đau thể xác của mình, tôi vận động những người khỏe hơn giúp đỡ người yếu, băng bó vết thương, xin cháo, xin nước bón từng người, truyền niềm tin nhất định ngày mai sẽ chiến thắng, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để chị em vững vàng đấu tranh”.
Quyết không lùi bước trước kẻ thù
Địch tìm mọi cách phá tổ chức Đảng, chi bộ và tổ chức đoàn thể của ta trong trại giam nhưng không thành. Bà Nga liên lạc được với Chi bộ Đảng trại 2, được tổ chức phân công làm Phân đoàn trưởng, Phó Bí thư Chi đoàn rồi Trung đội trưởng xung kích đấu tranh chính trị. Ở cương vị nào bà cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được chị em tín nhiệm và yêu thương.
Bà Nga kể, năm 1971, nhận được tin báo cơ sở là phong trào đấu tranh cách mạng ở ngoài khí thế sục sôi, nên tìm cách liên lạc với tổ chức xin được giả đau để nhận rải truyền đơn vào Quân y viện Việt Nam Cộng hòa Quy Nhơn.
“Hồi nớ nghĩ mất cái răng cấm mà được việc lớn thì sá chi”, bà báo với giám thị trại giam cần phải đi nhổ răng cấm đau, bởi răng cấm chúng mới cho đi bệnh viện. Truyền đơn được cơ sở bí mật chuyển vào, tới ngày được đi bệnh viện, bà chia nhỏ mấy xấp truyền đơn ghim trên chóp nón cời, nhiếp thêm lớp bao bố đen để che, kinh nghiệm mấy chị đi trước là đội mũ sẽ bị khám xét, đội nón cời thì không.
“Hôm đó tù binh đau nhiều nên được đi bệnh viện số lượng đông, tới bệnh viện trong lúc chờ đến lượt mình nhổ răng tôi lân la, trà trộn rải hết số truyền đơn mang đi một cách nhanh gọn, rồi cũng nhổ cái răng không đau, về trại ê ẩm 5 ngày chưa hết, nghe cơ sở báo về địch thấy truyền đơn tung tóe trong bệnh viện điều tra dữ lắm nhưng không nghĩ của tù binh đem rải vì tù binh làm gì có truyền đơn”, bà Nga chia sẻ.
Năm 1972, chúng chuyển gần 1.000 tù binh Phú Tài lên Cần Thơ để đày ra Phú Quốc, chị em tù binh hợp thành một thể thống nhất đấu tranh chính trị. Đến khi Hiệp định Paris được ký kết, chúng chấp nhận trao trả tù binh tại Lộc Ninh. Bà Nga về lại Tiểu đoàn 312, Mặt trận 4 - Quảng Đà đóng quân ở Thạnh Mỹ (Nam Giang). Cơ thể tiều tụy, bà được tổ chức đưa ra Bắc an dưỡng tại thôn Đụn, tỉnh Ninh Bình.
Sau 3 tháng an dưỡng bà về lại đơn vị 70B, rồi điều qua C3 đoàn 210 giữ chức vụ Chính trị viên phó Đại đội, rồi làm Đoàn phó Đoàn chiến thắng cùng anh em trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Sơn Phúc. Đến năm 1974, bà được cử đi học tập quân sự chính trị tại C73, Mặt trận 4, rồi về phụ trách Trường Thiếu sinh quân. Đến đầu năm 1975, bà Nga tham gia cùng đơn vị tiến quân về giải phóng Đà Nẵng.
Bà Nga lập gia đình năm 1977, chồng bà cũng là cựu tù Côn Đảo, bị địch cắt một chân trong tù. Năm 2020, tập thể nữ tù binh trại giam Phú Tài được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. “Đến hôm nay tôi rất đỗi tự hào rằng mình đã cống hiến một phần cuộc đời cho cách mạng”, bà Nga kết thúc câu chuyện với tinh thần phấn khởi, hân hoan giữa những ngày thành phố Đà Nẵng kỷ niệm 51 năm Giải phóng quê hương.
Nguồn: https://baodanang.vn/nu-biet-dong-thanh-kien-trung-3329859.html







Bình luận (0)