Hai nút thắt kìm hãm phát triển
Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2, tạo lợi thế lớn để phát triển nuôi biển công nghiệp quy mô lớn.
Trong Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, nuôi biển được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên, bảo vệ nguồn lợi và nâng cao giá trị xuất khẩu. Đề án phát triển nuôi biển cũng đặt mục tiêu đạt sản lượng khoảng 1,45 triệu tấn, mở rộng mạnh mô hình nuôi xa bờ ứng dụng công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, ngành nuôi biển đang gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân lực và khoa học công nghệ.
Hiện ngành thủy sản tạo việc làm cho khoảng 4 - 4,5 triệu lao động, song lực lượng lao động trực tiếp trong lĩnh vực nuôi biển chỉ chiếm khoảng 10 - 15%.
Đáng chú ý, lao động được đào tạo bài bản trong nghề nuôi biển hiện mới đạt khoảng 20%. Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình nuôi biển hiện đại, người lao động không chỉ cần kỹ năng nuôi trồng truyền thống mà còn phải có khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và blockchain để quản lý môi trường nuôi, giám sát sức khỏe thủy sản, truy xuất nguồn gốc và dự báo dịch bệnh. Tuy nhiên, nước ta hiện thiếu nghiêm trọng kỹ sư công nghệ cao, chuyên gia môi trường biển và nhân lực quản trị chuỗi giá trị nuôi biển.
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc và sinh hoạt trên biển khắc nghiệt trong khi thu nhập, bảo hiểm và chính sách an sinh chưa đủ hấp dẫn khiến ngành khó thu hút lao động, nhất là lao động trẻ.
Theo Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, dù đã xuất hiện lồng nhựa HDPE, công nghệ IoT, AI và hệ thống quan trắc môi trường ở một số mô hình, nhưng phần lớn hoạt động nuôi biển vẫn tập trung ở vùng ven bờ với quy mô nhỏ lẻ. Tỷ lệ sử dụng lồng gỗ truyền thống còn cao; mức độ cơ giới hóa, tự động hóa thấp; hệ thống cảnh báo dịch bệnh và quản lý số hóa chưa được ứng dụng rộng rãi.
Việt Nam cũng đã làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo của nhiều loài cá biển có giá trị kinh tế như cá chẽm, cá mú, cá chim vây vàng hay cá bớp. Tuy nhiên, chất lượng con giống chưa đồng đều; nguồn cá bố mẹ còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên; công nghệ chọn giống quy mô công nghiệp chưa phát triển mạnh. Đáng chú ý, với tôm hùm - mặt hàng xuất khẩu giá trị cao của ngành thủy sản - Việt Nam đến nay vẫn chưa làm chủ được công nghệ sản xuất giống, khiến nguồn cung con giống còn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.
Cần cú hích công nghệ và nhân lực
Trong bối cảnh đó, ông Nguyễn Hữu Thanh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho rằng, phát triển nuôi biển công nghiệp bền vững không chỉ dừng ở việc nâng cấp vật liệu lồng nuôi, mà cần một sự chuyển đổi căn bản về tư duy quản lý theo hướng dựa trên dữ liệu và khoa học công nghệ.
Theo ông, ngành nuôi biển cần tập trung vào ba trụ cột chính gồm: phát triển giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng kháng bệnh tốt; đầu tư hạ tầng nuôi có khả năng chống chịu thiên tai, bão gió; và thúc đẩy mô hình nuôi đa loài kết hợp (IMTA) nhằm nâng cao hiệu quả sinh thái và giảm tác động môi trường. Đây được xem là lộ trình quan trọng để từng bước hình thành một ngành kinh tế biển xanh, hiện đại và phát triển bền vững.
Đồng thời, cần ưu tiên đầu tư ngân sách cho các chương trình chọn giống quốc gia, đẩy mạnh ứng dụng di truyền phân tử nhằm tạo ra các dòng giống tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống. Thúc đẩy nội địa hóa công nghệ nuôi biển, phát triển lồng HDPE và các thiết bị tự động nhằm giảm chi phí đầu tư, vận hành. Việc xây dựng các vùng nuôi tập trung gắn với hệ thống logistics, kho lạnh và chế biến cũng được xem là giải pháp quan trọng để hình thành chuỗi giá trị nuôi biển khép kín và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Đặc biệt, theo ông Thanh, cần triển khai hệ thống quan trắc môi trường biển tự động, bản đồ rủi ro thiên tai; có cơ chế bảo hiểm nuôi biển để doanh nghiệp yên tâm đầu tư công nghệ cao; thúc đẩy “tín chỉ carbon rừng ngập mặn và rong biển” để tạo nguồn thu bổ sung cho người nuôi.
Theo PGS. TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản, phát triển nuôi biển công nghiệp bền vững đòi hỏi một chiến lược tổng thể về đào tạo và thu hút nhân lực với sự tham gia đồng bộ của nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Trước hết cần hoàn thiện quy hoạch không gian biển nhằm tạo sự ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn, từ đó có điều kiện phát triển công nghệ và đào tạo nhân lực bài bản; đồng thời, nhà nước cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề nuôi biển theo chuẩn quốc tế, tăng cường hỗ trợ đào tạo nghề và có chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút kỹ sư, chuyên gia công nghệ cao làm việc tại các vùng biển.
Về phía các trường đại học và cơ sở đào tạo thủy sản cần đổi mới chương trình theo hướng “xanh và số”; đưa các nội dung như AI trong quản lý môi trường biển, IoT trong nuôi trồng thủy sản, kinh tế tuần hoàn và truy xuất nguồn gốc điện tử vào giảng dạy. Công tác đào tạo phải gắn với thực tiễn doanh nghiệp, mở rộng mô hình liên kết giữa trường học và các trang trại nuôi biển công nghiệp để sinh viên được thực hành trực tiếp.
Theo mục tiêu của Đề án phát triển nuôi biển, đến năm 2030 sẽ có ít nhất 50% lao động trực tiếp được tập huấn về kỹ thuật nuôi công nghiệp và an toàn lao động; do đó việc đào tạo lại ngư dân cũng rất quan trọng; đồng thời, các trung tâm đào tạo thực hành tại Khánh Hòa, Ninh Thuận và Quảng Ninh cần được phát triển để người lao động tiếp cận công nghệ mới theo hình thức “cầm tay chỉ việc”.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/nuoi-bien-cong-nghiep-thieu-nhan-luc-cong-nghe-cao-10418088.html







Bình luận (0)