Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

PGS.TS, đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn:

Theo PGS.TS, đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, Hà Nội cần chuyển từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “khai thác sáng tạo”, từ quản lý di sản đơn thuần sang phát triển kinh tế di sản.

Hà Nội MớiHà Nội Mới26/02/2026

Nghị quyết số 80-NQ/TƯ ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đưa ra nhiều quan điểm, tư duy, giải pháp mới để xây dựng, phát triển văn hóa. PGS.TS, đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn đã dành cho phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội cuộc trao đổi về những đổi mới quan trọng này.

- Nghị quyết số 80-NQ/TƯ khẳng định: “Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hóa, trong đó, nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng”. Là nhà nghiên cứu về văn hóa, ông có thể chia sẻ góc nhìn của mình về quan điểm này?

bhs.jpg
PGS.TS, đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn. Ảnh: PV

- Theo tôi, quan điểm của Nghị quyết số 80-NQ/TƯ về việc “đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững” thực chất là sự chuyển biến rất căn bản trong tư duy phát triển.

Trước đây, văn hóa đôi khi vẫn được nhìn như một lĩnh vực tiêu dùng ngân sách, một phần “phúc lợi tinh thần”. Nhưng Nghị quyết số 80-NQ/TƯ đã đặt văn hóa trở lại đúng vị trí của nó: Vừa là nền tảng, vừa là nguồn lực nội sinh, vừa là động lực phát triển dài hạn của quốc gia. Đầu tư cho văn hóa không chỉ là xây dựng thiết chế, hay bảo tồn di sản, mà là đầu tư cho con người, cho bản sắc, cho sức mạnh mềm, cho khả năng sáng tạo và năng lực cạnh tranh của đất nước trong tương lai.

Điểm rất mới và rất quan trọng trong Nghị quyết số 80-NQ/TƯ là tư duy về huy động nguồn lực. Nhà nước không thể và cũng không nên “làm thay” toàn bộ hoạt động văn hóa, mà phải đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, tạo niềm tin và định hướng phát triển. Khi môi trường thể chế minh bạch, cơ chế đủ hấp dẫn, thị trường văn hóa đủ mở, thì nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân sẽ trở thành động lực mạnh mẽ. Thực tế cho thấy, những lĩnh vực phát triển nhanh nhất của công nghiệp văn hóa hiện nay như điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thiết kế, nội dung số… đều đến từ sức sáng tạo và đầu tư của khu vực tư nhân.

Ở tầm sâu hơn, quan điểm này phản ánh một triết lý phát triển: Văn hóa không đứng ngoài kinh tế, mà đồng hành, điều tiết và nâng tầm kinh tế. Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu nền tảng văn hóa sẽ khó bền vững. Ngược lại, khi văn hóa được đầu tư đúng mức, nó sẽ tạo ra con người sáng tạo hơn, xã hội nhân văn hơn, môi trường kinh doanh lành mạnh hơn và hình ảnh quốc gia hấp dẫn hơn. Đó chính là giá trị lâu dài mà Nghị quyết số 80-NQ/TƯ đang hướng tới.

- Nghị quyết số 80-NQ/TƯ cũng nêu rõ, thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hóa, thu hút, trọng dụng nhân tài. Là đại biểu Quốc hội, theo ông, cần hoàn thiện những chính sách gì để tạo hành lang pháp lý thuận lợi thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa?

- Từ góc độ lập pháp, tôi cho rằng, để huy động được nguồn lực cho văn hóa, điều quan trọng nhất là phải tạo ra một hệ sinh thái thể chế thực sự thuận lợi, ổn định và có tính khuyến khích. Hiện nay, không phải xã hội hay doanh nghiệp không muốn đầu tư vào văn hóa, mà nhiều khi họ còn e ngại vì cơ chế thiếu rõ ràng, thủ tục phức tạp, thời gian thu hồi vốn dài và rủi ro chính sách còn cao.

Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp lý về xã hội hóa và hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa. Các thiết chế như nhà hát, bảo tàng, rạp chiếu phim, không gian sáng tạo, công viên di sản… cần có cơ chế PPP linh hoạt, cho phép khu vực tư nhân tham gia đầu tư, vận hành và khai thác một cách minh bạch, hiệu quả. Cùng với đó là các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng đối với doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp văn hóa, đặc biệt là các lĩnh vực có giá trị sáng tạo cao nhưng rủi ro lớn.

Thứ hai, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ, bởi đây là “tài sản cốt lõi” của nền kinh tế sáng tạo. Khi quyền lợi của người sáng tạo và nhà đầu tư được bảo vệ nghiêm túc, thị trường văn hóa mới có thể phát triển lành mạnh.

Thứ ba, Nghị quyết số 80-NQ/TƯ đã nhấn mạnh yếu tố con người, vì vậy, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa cần được thiết kế theo hướng đặc thù: cơ chế đặt hàng sáng tạo, quỹ hỗ trợ tài năng, môi trường làm việc linh hoạt, thậm chí là cơ chế đãi ngộ tương xứng với giá trị sáng tạo.

Ở tầm Quốc hội, việc rà soát, sửa đổi các luật liên quan như Luật Di sản văn hóa, Luật Xuất bản, Luật Điện ảnh, cũng như nghiên cứu xây dựng Luật về công nghiệp văn hóa, hay hoạt động nghệ thuật là những bước đi cần thiết để tạo hành lang pháp lý đồng bộ. Khi thể chế thông thoáng, ổn định và khuyến khích đổi mới sáng tạo, nguồn lực xã hội cho văn hóa sẽ được khơi thông một cách tự nhiên và bền vững.

z7566240237638_1f3c1b3ad80b3253d6595ae86c6e3171.jpg
Hà Nội cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa. Ảnh: PV

- Theo ông, thành phố Hà Nội cần có những giải pháp gì để đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của Thủ đô?

- Hà Nội có một lợi thế đặc biệt mà không địa phương nào có được. Đó là chiều sâu lịch sử, mật độ di sản, không gian văn hóa và vị thế của một trung tâm sáng tạo của cả nước. Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, Hà Nội cần chuyển từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “khai thác sáng tạo”, từ quản lý di sản đơn thuần sang phát triển kinh tế di sản.

Trước hết, cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên nền tảng di sản và bản sắc Thủ đô. Không gian phố cổ, làng nghề, ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật truyền thống… hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch có giá trị gia tăng cao nếu được tổ chức chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ số và kết nối với thị trường quốc tế.

Thứ hai, Hà Nội cần xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, trong đó, phát triển các không gian sáng tạo, khu công nghiệp văn hóa, trung tâm thiết kế, nội dung số, nghệ thuật biểu diễn đương đại. Khi người trẻ, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và doanh nghiệp có môi trường để thử nghiệm và phát triển ý tưởng, văn hóa sẽ trở thành một động lực kinh tế thực sự.

Thứ ba, phát triển văn hóa Thủ đô phải gắn với xây dựng con người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Một thành phố đáng sống không chỉ là hạ tầng hiện đại, mà còn là môi trường văn hóa lành mạnh, ứng xử đẹp, không gian công cộng giàu tính nhân văn. Đây chính là “thương hiệu mềm” quan trọng để thu hút du khách, nhà đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Quan trọng hơn cả, Hà Nội cần giữ được sự cân bằng giữa hiện đại và truyền thống. Phát triển nhanh nhưng không đánh mất ký ức đô thị; đổi mới sáng tạo nhưng vẫn giữ được hồn cốt Thăng Long - Hà Nội. Khi làm được điều đó, văn hóa sẽ không chỉ là bản sắc, mà còn là sức mạnh nội sinh, là lợi thế cạnh tranh và là nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: https://hanoimoi.vn/pgs-ts-dai-bieu-quoc-hoi-bui-hoai-son-ha-noi-can-chuyen-tu-tu-duy-bao-ton-tinh-sang-khai-thac-sang-tao-735187.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Việt Nam

Việt Nam

Tắm biển chiều

Tắm biển chiều

Yêu lắm quê hương

Yêu lắm quê hương