Quảng Ninh đã thực hiện làm sạch được 264.453 thửa đất ở, nhà ở lên hệ thống VNPT_iLIS. Đặc biệt, tỉnh đã đưa toàn bộ 15.501 tờ bản đồ địa chính lên dữ liệu không gian VNPT_iLIS; đối soát dân cư đối với 264.453/274.925 thửa đất (đạt 96,2%). Điều này cho thấy những kết quả tích cực bước đầu của Quảng Ninh trong việc chuẩn hóa dữ liệu đất đai, một lĩnh vực vốn phức tạp, đòi hỏi đối chiếu đồng thời giữa hồ sơ pháp lý, dữ liệu số, bản đồ địa chính và thực tế sử dụng đất.
Thực tế nhiều năm cho thấy, dữ liệu đất đai ở không ít địa phương trong tỉnh tồn tại tình trạng thiếu hồ sơ quét, sai lệch số tờ, số thửa, thông tin chủ sử dụng chưa thống nhất, biến động đất đai chưa cập nhật kịp thời. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, khối lượng dữ liệu cần chuẩn hóa càng lớn hơn, trong khi nhiều hồ sơ hình thành qua nhiều giai đoạn quản lý khác nhau. Tuy nhiên, các địa phương đã có cách làm linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế.
Tiêu biểu tại đặc khu Vân Đồn (địa phương cấp xã có diện tích lớn nhất cả nước), sau sắp xếp đơn vị hành chính, địa bàn nơi đây gồm toàn bộ 12 xã, thị trấn của huyện Vân Đồn trước đây; trong khi dữ liệu đất đai qua nhiều thời kỳ còn thiếu, yếu, bản đồ địa chính đo đạc từ năm 2012 không còn phù hợp với thực tế phát triển hiện nay.
Trong bối cảnh đó, Vân Đồn đã lựa chọn cách làm linh hoạt là huy động tối đa nguồn lực xã hội và tổ chức công việc theo hướng chuyên môn hóa cao, phối hợp với Trường Đại học Hạ Long huy động 30 sinh viên chuyên ngành tài nguyên môi trường tham gia hỗ trợ thực hiện. Các tổ nghiệp vụ được phân công nhiệm vụ cụ thể, gồm: Tổ dữ liệu hồ sơ quét, tổ xử lý dữ liệu sơ đồ không gian thửa đất, tổ xử lý dữ liệu VNILIS, tổ đối soát dân cư. Khối lượng công việc giao theo ngày, kiểm điểm tiến độ cuối ngày để xử lý ngay các điểm nghẽn phát sinh.
Đặc khu Vân Đồn cũng thiết lập cơ chế trao đổi trực tuyến thường xuyên giữa địa phương, Văn phòng Đăng ký đất đai, VNPT và các đơn vị chuyên môn. Chính cách làm này đã giúp Vân Đồn hoàn thành hơn 14.050 thửa đất được làm sạch mức độ 1, đứng đầu toàn tỉnh về số lượng thửa đất đạt điều kiện cập nhật lên dữ liệu đất đai quốc gia. Địa phương xác định việc làm sạch dữ liệu phải đi cùng đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính và cấp đổi giấy chứng nhận đồng bộ, đây là cách tiếp cận mang tính căn cơ, tránh tình trạng “làm sạch hôm nay, phát sinh sai lệch ngày mai”.
Còn như phường Đông Triều cũng phải xử lý khối lượng dữ liệu lớn với 250 tờ bản đồ địa chính. Theo thời gian, một số khu vực đã có biến động lớn về hiện trạng sử dụng đất, nhưng chưa được rà soát, chỉnh lý kịp thời, làm phát sinh khó khăn trong quá trình đối soát, hiệu chỉnh và đồng bộ dữ liệu. Phường đã kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ số với kinh nghiệm quản lý thực tiễn tại cơ sở, xác định rõ công nghệ có thể hỗ trợ tổng hợp, đồng bộ dữ liệu, nhưng để xác minh lịch sử biến động, chủ sử dụng, số tờ, số thửa qua nhiều giai đoạn thì vai trò của cán bộ địa bàn, trưởng khu phố là đặc biệt quan trọng. Với cách làm này, đến ngày 19/5/2026, địa phương đã làm sạch và đồng bộ 10.667/10.744 thửa đất đạt 99,28%, hoàn thành 100% chỉ tiêu tỉnh giao.
Không chỉ với 2 địa phương trên, Quảng Ninh xác định xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai là nhiệm vụ trọng tâm của chuyển đổi số, nhằm xây dựng “dữ liệu nền” cho quản trị nhà nước hiện đại. Điểm nổi bật trong đợt cao điểm lần này là sự chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở. Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt văn bản chỉ đạo, kế hoạch, tổ công tác, ban chỉ đạo đã được thành lập và vận hành đồng bộ. Không chỉ giao nhiệm vụ, tỉnh còn áp dụng nguyên tắc rất cụ thể: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Từ cơ chế chỉ đạo đó, nhiều địa phương đã hình thành được cách làm bài bản, khoa học và phù hợp thực tiễn địa bàn.
Đồng chí Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhấn mạnh: Từ thực tiễn triển khai ở các địa phương có thể thấy, thách thức lớn nhất hiện nay là xử lý những dữ liệu “khó”, dữ liệu lịch sử phức tạp và bảo đảm tính “sống” của hệ thống dữ liệu sau khi hoàn thiện. Bởi cơ sở dữ liệu đất đai chỉ thực sự có giá trị khi được cập nhật thường xuyên, phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất và có khả năng liên thông với các hệ thống quản trị khác. Điều này đòi hỏi không chỉ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, mà còn phải tiếp tục chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân lực và duy trì cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ. Công tác đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai phải được kiểm đếm theo từng ngày, theo từng địa bàn. Từ đó việc hoàn thành chuẩn hóa 2,1 triệu thửa đất còn lại mới bảo đảm theo đúng yêu cầu đặt ra.
Kết quả bước đầu mà Quảng Ninh đạt được cho thấy tỉnh đang đi đúng hướng trong xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ quản trị hiện đại. Từ một lĩnh vực vốn nhiều thủ công, phân tán, việc từng bước hình thành cơ sở dữ liệu đất đai “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” không chỉ tạo chuyển biến trong quản lý nhà nước về đất đai, mà còn mở ra dư địa lớn cho cải cách hành chính, phát triển đô thị thông minh và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai cho tăng trưởng bền vững.
Nguồn: https://baoquangninh.vn/quyet-liet-xay-dung-co-so-du-lieu-dat-dai-dong-bo-3408913.html









Bình luận (0)