
Tàu cá neo đậu trên sông Cái Bé. Ảnh: BẢO TRÂN
Trời hửng sáng, kênh xáng Xẻo Rô vang tiếng người gọi nhau. Trên con tàu lưới bao dài 23m của ông Nguyễn Văn Tùng, ngụ xã An Biên, 15 thuyền viên tất bật chuẩn bị cho chuyến biển kéo dài hơn 1 tháng. Từng cây đá lạnh được chuyển xuống hầm cá. Hơn 1.000 lít dầu được đưa vào khoang nhiên liệu. 2 bồn chứa nước ngọt loại 1.000 lít/bồn nhanh chóng đầy nước. Gần 200kg gạo, 5 cây đường, 2 can dầu ăn cùng hàng chục loại nhu yếu phẩm, ngư cụ được kiểm tra kỹ trước khi xuất bến. Đứng trên boong tàu, ông Tùng nhẩm tính, chỉ riêng khâu chuẩn bị đã tiêu tốn hơn 50 triệu đồng. Tiền dầu chiếm phần lớn trong số đó. “Hồi trước, giá dầu, giá vật tư còn thấp, đi biển nhẹ gánh hơn. Giờ thì chi phí gì cũng tăng, mỗi chuyến ra khơi tôi phải cân nhắc rất kỹ”, ông Tùng trầm giọng nói.
Nếu tàu lưới bao đã nặng chi phí, tàu bẫy mực của ông Võ Văn Tấn (59 tuổi), ngụ ấp 6 Biển, xã Đông Thái còn cao hơn. Mỗi chuyến khoảng 40 ngày, tiêu thụ hơn 4.000 lít dầu, chi phí ban đầu hơn 100 triệu đồng. Vì thế, con tàu ấy lại đang nằm im ở bến. Lớp sơn dưới mạn tàu ngả màu sau 5 tháng không ra khơi vì thiếu bạn thuyền. Ông Tấn cho biết, trước đây thanh niên miền biển thường theo cha xuống tàu, bám biển mưu sinh. Nhưng nay, người trẻ thường chọn làm công nhân, đi thành phố hoặc xuất khẩu lao động vì thu nhập ổn định hơn, không phải đánh đổi bằng những chuyến biển dài ngày.
Để đủ bạn thuyền cho một chuyến biển, ông Tấn nhiều lần phải ứng trước hơn chục triệu đồng cho từng người. Thế nhưng, không phải ai nhận tiền cũng giữ lời, có người nhận tiền xong lại trốn hoặc đi tàu khác. Đôi khi ở ngoài biển chưa được 1 tháng, bạn thuyền lại đình công, đòi vào bờ. “Nếu thuận lợi, sau gần 40 ngày ngoài khơi có thể khai thác được khoảng 2 - 3 tấn mực, mỗi bạn thuyền được chia hơn 20 triệu đồng. Nhưng những chuyến như vậy ngày càng hiếm. Có chuyến lời, có chuyến lỗ, mà lỗ thì nhiều hơn lời nên anh em không còn mặn mà nữa. Tôi đầu tư hơn 2 tỷ đồng đóng tàu và mua ngư cụ, 7 năm rồi vẫn chưa thu hồi được vốn”, ông Tấn ngao ngán nói.
Muốn có mẻ cá khá, tàu phải đi xa hơn, bám biển lâu hơn, khi đó chi phí lại tăng lên theo từng hải lý. Thời tiết cũng ngày càng thất thường, biển động xuất hiện dày hơn khiến nhiều chuyến phải nằm bờ chờ sóng yên. Sau nhiều chuyến biển thua lỗ, ông Trương Văn Cỏ (56 tuổi), ngụ ấp 6 Biển, xã Đông Thái quyết định bán chiếc tàu cùng vỏ máy đã gắn bó hàng chục năm. Trong căn nhà nhỏ, ông giữ lại vài tấm lưới cũ như kỷ niệm của một thời bám biển. “Ra khơi, có lúc thiết bị giám sát hành trình mất tín hiệu lúc nào không hay, tôi vẫn chạy biển bình thường. Mãi đến hơn 1 tháng sau khi vào bờ mới nhận thông báo bị xử phạt vì không duy trì kết nối thiết bị. Khi đó, nhiều thông tin đã không còn đủ để giải trình rõ ràng”, ông Cỏ nói.
Những lo lắng không chỉ nằm ngoài khơi. Ở các xã ven biển, mỗi chuyến tàu rời bến không chỉ có những người đàn ông lênh đênh giữa sóng nước mà còn phía sau là những người phụ nữ lặng lẽ chờ đợi tin báo bình an. Gần 30 năm trôi qua, bà Nguyễn Thị Oanh, ngụ ấp 2, xã An Biên vẫn chưa quên những ngày cuối năm 1997, khi cơn bão Linda quét qua vùng biển Tây Nam Bộ. Khi ấy, bà đang mang thai những tháng cuối, còn chồng thì lênh đênh ngoài khơi. Tin bão dồn dập truyền về khiến cả xóm biển chìm trong lo lắng. “Lúc đó cả xóm đều nghĩ chồng tôi đã chết do 2 ngày sau bão mà ông ấy vẫn chưa thấy về. Ở nhà ai cũng khóc, chuẩn bị lo hậu sự. Không ngờ đến ngày thứ 3 ổng trở về. Hóa ra lúc đó ổng ở lại để phụ cứu người, vớt xác bạn thuyền. Khi đó đâu có điện thoại như bây giờ mà báo tin. Nhớ lại tới giờ tôi vẫn còn sợ”, bà Oanh kể lại giọng chùng xuống.

Ông Trương Văn Cỏ xem lại những tấm lưới cũ. Ảnh: BẢO TRÂN
Sau lần thoát nạn, người đàn ông ấy không còn quay lại biển nữa mà ở nhà phụ vợ buôn bán. Đứa con trai chào đời không lâu sau đó được đặt tên là Nguyễn Văn Bảo. Với gia đình, cái tên ấy mang ý nghĩa là “bão”, như một cách ghi nhớ khoảnh khắc sinh tử mà họ từng trải qua. Hơn 20 năm sau, cậu bé ấy lại chọn đúng con đường của cha. “Nghề biển cũng nguy hiểm vì thời tiết khó đoán nhưng tôi quen rồi. Mấy anh em bạn thuyền đi lâu năm nên cũng hiểu và thương nhau. Chuyến nào trúng cá thì thu nhập khá. Như chuyến đầu năm trúng đậm, mỗi người được hơn 20 triệu đồng. Nhưng chuyến vừa rồi gặp biển động nhiều, hơn 1 tháng lênh đênh mà mỗi người chỉ khoảng 10 triệu đồng”, anh Bảo nói.
Sau nhiều ngày lênh đênh, những con tàu lần lượt cập bến. Trời còn mờ sương, khu vực cảng cá Tắc Cậu đã rộn tiếng xuống hàng, tiếng người gọi nhau dồn dập. Dọc theo cảng, những người thu mua gần như “đóng chốt” từ sớm. Ông Nguyễn Văn Sản, ngụ xã Bình An, hơn 10 năm làm nghề thu mua hải sản cho biết, công việc của ông gắn chặt với từng chuyến biển. Tàu trúng thì người thu mua, người vận chuyển, bốc vác, cơ sở chế biến đều có việc. Còn tàu thất mùa thì cả chuỗi gần như “đứng lại”. Những ngày gần đây, biển động khiến tàu ra khơi giảm, tàu có đi thì sản lượng cũng không nhiều. Hàng về cảng lớn thưa hơn hẳn, nhiều chủ tàu chọn ghé bán trực tiếp ở các điểm gần ngư trường như Hòn Nghệ, Hòn Sơn, cống Bình An… Vì vậy, dù cảng vẫn sáng đèn nhưng không khí đã không còn nhộn nhịp như trước.
Những cuộc mua bán vẫn tiếp diễn giữa tiếng máy nổ thưa dần ngoài bến. Biển vẫn ở đó, không xa nhưng khó lường. Vẫn còn những người lặng lẽ gửi cuộc mưu sinh giữa trùng khơi, nhưng người trẻ dần xa rời nghề biển. Rồi mai này, ai sẽ tiếp tục những chuyến vươn khơi? Câu trả lời không chỉ nằm ở những người bám biển mà còn ở những giải pháp để nghề biển phát triển bền vững, để những miền biển vẫn giữ được nhịp sống đã tồn tại qua bao thế hệ.
BẢO TRÂN
Nguồn: https://baoangiang.com.vn/sau-chuyen-bien-a490967.html







