Đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động AI
Sáng 26/5, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tổ chức tọa đàm "Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia Việt Nam: Định hướng và những giá trị cốt lõi cho sự phát triển AI có trách nhiệm". Tọa đàm có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học đến từ các cơ quan của Quốc hội, các bộ, ban, ngành, cơ sở đào tạo và nghiên cứu.
Khung chính sách, pháp luật về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Sự ra đời của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 được xem là nền tảng. Luật tiếp cận dựa trên rủi ro, phân loại AI theo các mức độ rủi ro (không thể chấp nhận, rủi ro cao, rủi ro thấp), tương tự xu hướng quốc tế nhưng có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn kinh tế số của Việt Nam. Luật dành hẳn Chương V quy định Đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động AI.
Trên cơ sở đó, Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia cũng đã được ban hành theo Thông tư 05/TT-BKHCN (10/3/2026). Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đây là dấu cột mốc quan trọng định hình hệ sinh thái AI an toàn, tin cậy và nhân văn.
Tuy nhiên, việc chuyển hóa các nguyên tắc mang tính định hướng của Khung quốc gia thành các quy trình hành động cụ thể tại từng tổ chức, doanh nghiệp và dự án nghiên cứu vẫn là bài toán cần sự chung tay của các nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành.
Từ thực tiễn thực hiện Dự án “Nghiên cứu xây dựng bộ nguyên tắc và một số hướng dẫn về trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm (RAI) tại Việt Nam”, PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh cho rằng, khung đạo đức AI đã định vị các nguyên tắc tiến bộ nhưng còn thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật. Cần chuyển hóa các khái niệm như “an toàn”, “bền vững”, “kiểm soát của con người” thành tiêu chí, quy trình và công cụ kiểm định đặc biệt cho bối cảnh công nghệ tại Việt Nam.
Theo đó, thiết lập quy trình đánh giá tác động đạo đức là cơ chế tự kiểm soát bắt buộc nhằm nhận diện, ngăn chặn các rủi ro tiềm ẩn ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng nghiên cứu đến vận hành thực tế. Xây dựng “nhật ký hệ thống” và tiêu chuẩn hóa khả năng truy xuất nguồn gốc giúp minh bạch hóa các quyết định của hệ thống AI, phục vụ trách nhiệm giải trình của mọi chủ thể liên quan.
Xác lập mô hình hợp tác đào tạo - nghiên cứu - ứng dụng về trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trên quy mô quốc gia. Đồng thời, thúc đẩy đổi mới sáng tạo bao trùm và phục vụ cộng đồng.
“Đổi mới sáng tạo không chỉ là tạo ra công cụ mới nhất, mà là tạo ra công cụ có ích và dễ tiếp cận nhất. Cần chuyển đổi các nguyên tắc thành tiêu chuẩn kỹ thuật quy định kiểm định và cơ chế quản trị con người. Bởi suy cho cùng, AI vì con người, cho con người và do con người”, PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh nói.
Hình thành hệ sinh thái AI an toàn, tin cậy và nhân văn
Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, TS. Trần Văn Tùng nhìn nhận, giờ đây không ai phủ nhận có vai trò, đóng góp tích cực của AI, nhưng bên cạnh đó là câu hỏi làm thế nào khắc phục hạn chế, tiêu cực của nó.
“Sử dụng AI thế nào, khôn ngoan đến đâu, như thế nào cho tốt… phải có công cụ để hỗ trợ. Bên cạnh những thiết chế luật pháp, đến giai đoạn này, cần chú trọng vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, để con người có thể làm chủ AI, sáng tạo để vận dụng AI một cách thông minh, năng suất, hiệu quả”, TS. Trần Văn Tùng chỉ ra.
AI sẽ phục vụ ai, phục vụ điều gì, phục vụ theo những giới hạn giá trị nào? TS. Hồ Đức Thắng, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội phân tích, đây không phải là câu chuyện làm AI cho đúng quy định, mà là làm AI để con người tốt hơn, xã hội an toàn hơn, quốc gia tự chủ hơn và văn hóa Việt Nam hiện diện rõ hơn trong kỷ nguyên số.
“Tinh thần là không hoảng sợ, không né tránh, phải kiểm soát và làm chủ. Đạo đức không phải rào cản. Đạo đức là bộ phanh an toàn. Có phanh tốt, chiếc xe công nghệ Việt Nam mới có thể tự tin tăng tốc”, TS. Hồ Đức Thắng nhấn mạnh.
Điều 26, Luật Trí tuệ nhân tạo quy định Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia với 4 nguyên tắc nền tảng, cùng với Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển AI có trách nhiệm. TS. Hồ Đức Thắng cho rằng, thời gian tới, phát triển AI cần dựa vào 4 trụ cột: dữ liệu, đánh giá, giáo dục, quản trị.
Về dữ liệu, có 3 việc Việt Nam cần làm. Đó là đẩy mạnh xây dựng dữ liệu Việt chủ quyền (Tiếng Việt, 53 ngôn ngữ dân tộc, Hán Nôm, dân ca, văn bia); Phân vùng dữ liệu: Vùng đỏ - Vùng xanh (Dữ liệu cấm và dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu, sáng tạo); Người dân làm chủ (Dữ liệu của chính mình, theo Luật Dữ liệu năm 2024).
Về đánh giá, nhiều cách đánh giá năng lực con người có thể dùng để đánh giá AI. Về giáo dục, cần đẩy mạnh “bình dân học AI”, nâng cấp con người để làm chủ AI. Về quản trị, dựa vào Luật Trí tuệ nhân tạo, cần áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với mức độ rủi ro cũng như hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế thử nghiệm AI có kiểm soát.
“Bốn trụ cột này hướng tới một mục tiêu: Đi nhanh nhưng không đi liều; Đi xa nhưng không bỏ ai lại phía sau; Hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc Việt Nam”, TS. Hồ Đức Thắng nói.
Trên cơ sở đặt hàng nghiên cứu của Chương trình Aus4 Innovation (A4I) thuộc Cơ quan Khoa học và Công nghệ quốc gia Australia (CSIRO), Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã triển khai thực hiện Dự án “Nghiên cứu xây dựng bộ nguyên tắc và một số hướng dẫn về trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm (RAI) tại Việt Nam” (10/2023 - 12/2024). Kết quả giúp nâng cao năng lực của Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xây dựng các chính sách về RAI. Đồng thời thúc đẩy các cuộc thảo luận chính sách có ý nghĩa giữa các bên liên quan về cách thức quản lý AI hiệu quả.
Dựa trên thành công này, A4I và Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đang tiếp tục phối hợp thực hiện Dự án “Thúc đẩy trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển bền vững và bao trùm của Việt Nam”. Giai đoạn này tập trung tìm hiểu cách áp dụng Hướng dẫn RAI vào các lĩnh vực cụ thể.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/thuc-day-phat-trien-tri-tue-nhan-tao-co-trach-nhiem-10418149.html








Bình luận (0)