Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Bánh chưng lan man chuyện

(NB&CL) Các con tôi giờ rất ít khi chịu ăn bánh chưng, nhưng nếu muốn ăn thì chúng có thể ăn bất cứ ngày nào trong năm. Chúng không biết rằng ngày trước, tôi chỉ được ăn bánh chưng vào dịp Tết và đó là thứ bánh ngon đến mức đến giờ lúc nào tôi cũng còn thèm. Cái thèm đó tôi nghĩ là theo thói quen hằn vào vỏ não từ bé chứ giờ tôi ăn bánh chưng lúc nào chả được và đã nếm không ít sơn hào hải vị trên đời.

Công LuậnCông Luận18/02/2026


Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn nên tôi chứng kiến và biết rõ từ hạt lúa nếp đến chiếc bánh chưng ngày Tết xưa là một quy trình dài, nhọc sức như thế nào. Những ruộng lúa nếp thân mập mạp, lá dày hơn, xanh hơn là “đối tượng” mà lũ trẻ con chúng tôi theo dõi chờ Tết. Và quá trình theo dõi đó dài dường như… vô tận do sự đói khát và thiếu trò vui của chúng tôi khi đó. Chính vì cái đói mà khi đi qua những ruộng lúa nếp đang ngậm đòng chuẩn bị trổ bông, thể nào chúng tôi cũng lén rút những cái đòng đòng sát bờ để ăn. Chúng tôi cũng ăn cả đòng đòng lúa tẻ nhưng đòng của lúa nếp thì thơm ngon hơn thấy rõ.

z7421949409910_ba4d21fd71891e4d1f5398673cb25283.jpg

Lúa nếp cần dài ngày hơn lúa tẻ khá nhiều. Người ta nói rằng đấy chính là lý do mà người Việt cổ của chúng ta và cả các dân tộc thiểu số miền núi nữa vốn cái ăn chính là cơm nếp hoặc xôi đã chuyển sang ăn cơm tẻ vì lúa tẻ cần ít ngày hơn để sinh trưởng và có năng suất cao vượt trội. Áp lực dân số đã thay đổi cái ăn.

Lúa nếp chín gặp về cất kỹ, khi dùng mới đem xay giã, mà dịp dùng chỉ có vào Tết và ngày giỗ. Nếp ngày ấy là thứ gạo gắn với thờ cúng, lễ lạt, là thứ gạo “thiêng”. Chỉ khi kinh tế của chúng ta phát triển, cái đói không còn ám ảnh, gạo nếp, xôi, bánh chưng mới được “giải thiêng”, giáo sư Trần Quốc Vượng giảng giải như thế trong bài “Triết lý bánh chưng, bánh giầy” in trong cuốn “Trong cõi” của ông.

Để có bánh chưng, ngoài việc trồng lúa nếp, người ta phải lo nuôi lợn, trồng đỗ (xanh), hành (xưa thường các gia đình tự làm trong nền kinh tế tự cung tự cấp). Và phải lo củi đốt. Một nồi bánh lớn, phải đun liên tục trong hàng chục tiếng đồng hồ tạo ra một vấn đề lớn về củi. Ở nông thôn xưa, nói “củi châu” cấm có sai trong một nền đun nấu dùng rơm rạ. Rơm rạ cơ bản là không hữu dụng trong nấu bánh chưng vì quá lèo phèo, biết mấy cho đủ, vả chăng chả có nhà nào đủ sức luôn tiếp rơm rạ vào bếp nấu và lấy tro đi trong hàng chục tiếng đồng hồ như thế. Chẳng biết nơi khác thì thế nào chứ quê tôi một vùng nằm giữa đồng bằng và trung du Thanh Hoá thì trước khi có than đá đút lò thì phải giải quyết vấn đề này bằng gốc tre.

Mấy tháng trước Tết, người ta đã lo đi đánh gốc tre. Những cây tre đã bị chặt, để lại gốc chủ yếu nằm dưới đất. Phải đào đất và chặt đứt rời những gốc chết đó. Việc rất không đơn giản, không làm thì không biết chứ gốc tre ăn liên hoàn với nhau rất chằng chịt và ken chặt, lại rất cứng. Thành thử chỉ có trai tráng mới làm được việc rất khó nhọc này. Cuốc, xẻng chỉ là vai phụ vì không mấy hữu dụng, người đánh gốc tre phải có thuổng, xà beng và búa. Dùng thuổng và xà beng để đào khoét đất cho lòi gốc tre ra và dùng búa, mà phải là búa tạ để chặt rời. Việc nặng đến mức có người dù là dân cày, dù đầy chai sần tay vẫn phồng rộp, có khi bong da, bật máu.

Đánh được đủ gốc tre rồi thì phải xếp thành chuồng ở gốc vườn, góc sân để gốc tre thoáng khí dễ khô nỏ, khi đun được lửa và đượm.

Việc gói bánh chưng diễn ra trong một ngày đại vui của làng quê. Thường là hai chín hoặc ba mươi Tết. Đó là ngày ngả lợn. Từ rạng sáng, làng trên xóm dưới đã vang động tiếng rú thất thanh của các chú hợi bị chọc tiết. Rồi ồn ả, râm ran tiếng cạo lông, mổ thịt, đổ dồi, luộc lòng, chia thịt cho các nhà cùng “đụng” (chung) một con lợn. Rồi rộn rã sân từng nhà tiếng thái, chặt, băm, giã… Và việc cuối là gói bánh chưng.

z7422030799564_b11836410f662ba341177895ee727daa.jpg

Gạo ngâm để ráo, đỗ đãi nắm nắm, lá dong rửa sạch lau và để khô sẵn, thịt mới nhận về chọn miếng ngon có cả nạc lẫn mỡ thái miếng lớn. Lạt thì tre non chẻ hoặc sang hơn thì thì giang lột sẵn. Và người khéo tay, quen việc bắt tay vào gói, chung quanh là đám trẻ con tròn mắt theo dõi từng động tác. Đầu tiên là xếp lá, những chiếc trong cùng nhất thiết phải quay mặt xanh vào trong (để khi luộc xong lớp ngoài bánh chưng có màu xanh). Dùng bát hoặc chén lớn (chén tống) đong gạo, đổ vào trang đều, đặt nắm đậu đãi vàng ươm chính giữa, để một mà có thể là hai miếng thịt vào, lại đong gạo đổ lên trên và gấp lá lừng lớp gói lại, chỉnh thành, chỉnh góc thật vuông vắn rồi buộc lạt, xếp thành hàng ra chiếu. Ở nhiều nơi, người ta dùng khuôn vuông để gói bánh cho đẹp. Gạo nếp cũng có thể được nhuộm bằng nước lá mây, lá giềng giã để bánh có màu xanh đều từ trong ra ngoài và thơm ấm.

Một trong những lý do trẻ con chúng tôi thường hay vây các đám gói bánh chưng vì cuối cùng, người lớn thường bớt gạo, đỗ, thịt gói cho mỗi đứa một cái bánh nhỏ. Khi luộc, những chiếc bánh này chín sớm hơn rất nhiều và chúng tôi được chén thứ đồ thần thánh này thậm chí còn trước cả ông bà, ông vải.

Bánh chưng gói xong được xếp vào cái nồi đồng rất lớn, cỡ đại nhất gọi là nồi ba mươi (cỡ 30, lớn nhất trong hệ thống nồi đồng xưa, bắt đầu từ cái niêu lên nồi hai, nồi ba, nồi tư…) rồi đổ nước đun. Gác nồi bánh chưng với người lớn thì có thể là việc mệt vì phải thức đêm (hầu hết bánh chưng được nấu vào ban đêm) để tiếp gốc tre vào bếp, thêm nước khi nồi cạn, nhưng với trẻ con chúng tôi là việc vui và rất háo hức. Háo hức vì biết đến một lúc nào đó, chiếc bánh chưng nhỏ của mình sẽ được vớt ra trước. Thường thì chúng tôi cũng chả đợi được đến phút huy hoàng đó mà lăn ra ngủ, khi nào bánh được thì người lớn sẽ đánh thức.

Đến sáng thì nồi bánh chưng to đại tướng đã chín dền. Bánh được vớt ra, xếp lớp phẳng trên một tấm ván lớn rồi một tấm ván khác được đặt lên trên và đôi chiếc cối đá nặng đặt lên trên nữa. Để ép cho bánh ngót nước, chắc lại. Xong thì bánh sẽ được sửa sang từng chiếc cho hình thù vuông đẹp. Một số chiếc dùng thắp hương, thờ cúng sẽ được gói thêm một lớp lá dong tươi ở ngoài cho thật xanh đẹp. Cầu kỳ hơn thì cột buộc lại bằng thứ lạt đã nhuộm hồng. Những chiếc còn lại thì dùng lạt xâu thành từng xâu, treo lên xà bếp xà buồng cho thoáng khí lâu thiu, ăn không chỉ mấy ngày Tết mà cả tháng sau đó.

z7422030550688_5039044692a776ebd765b1011edccd19.jpg

Tác giả Lê Xuân Sơn gói bánh chưng.

Nói ăn cả tháng, thậm chí còn dài hơn là đối với những nhà có của ăn của để, gói đến dăm bảy chục, có khi cả trăm cái bánh chứ nhà không dư dả thì chỉ cố lấy mươi chiếc, và thường không tự nấu mà gói chung hoặc tự gói rồi gửi luộc vào nồi bánh của nhà ai đó. Bánh chưng rất lâu thiu. Gặp tiết xuân thuận, không quá nóng, thì để cả tháng, các góc bánh nơi lá dong bị gấp dẫn đến rách để lọt không khí bánh mới hơi chua vữa, nhưng bóc lá đi, hớt bỏ chỗ đó, rán lên chén vẫn khoái khẩu như thường. Bánh để lâu thì hạt gạo dền mềm sẽ cứng lại, ăn như gạo sống, hiện tượng gọi là “lại gạo”. Chỉ cần luộc lại hoặc rán, bánh lại dẻo ngon.

Giờ Tết tôi về quê thấy còn ít nhà tự gói và nấu bánh chưng. Đã có những lò, những nhà chuyên nghề gói luộc cung cấp, chỉ cần xuất tiền là muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Rất tiện lợi và nhàn thân nhưng thực sự một nét phong vị Tết đậm đà truyền không biết bao đời đã phai nhạt mất.

z7421949837954_a0d2a8b4e24365a38910e8d89450a5f4.jpg

*

Nghe nói một cách chàng màng rằng bánh chưng truyền không biết bao đời chắc nhiều người sẽ cười diễu mà rằng truyền từ thời Vua Hùng chứ đâu, sách “Lĩnh Nam chích quái” chả ghi rõ trong truyện “Bánh chưng” rằng Vua Hùng sau khi đánh tan giặc Ân muốn truyền ngôi cho con bèn mở cuộc thi tài giữa các hoàng tử và chàng Lang Liêu làm ra bánh chưng tương trưng cho đất vuông và bánh giầy (dày?) tượng trưng cho trời tròn, rất mới lạ, đầy ý nghĩa mà lại rất ngon nên được vua cha chấm nhất. Như vậy, bánh chưng ra đời ở đất Việt từ thời thượng cổ cách đây khoảng ba ngàn năm (ngang thời nhà Ân bên Trung Quốc). Và hẳn nhiên bánh chưng là thứ bánh thuần Việt, hơn thế nữa lại mang một triết lý sâu xa.

Ấy nhưng tôi tình cờ đọc thấy một cuộc tranh luận không được truyền thông rộng rãi. Ấy là trong bài “Triết lý bánh chưng, bánh giầy” mà tôi nhắc ở trên, giáo sư Trần Quốc Vượng đưa ra một số luận điểm đáng chú ý. Thứ nhất, thoạt kỳ thuỷ, bánh chưng không được gói hình vuông mà gói hình trụ tròn như cái giò, đúng như cái bánh tét ở miền Nam, cũng giống như cái bánh chưng tròn dài cho tới giờ vẫn được gói ở một số nơi vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ và miền núi phía Bắc (đúng là ở Lạng Sơn, tôi từng được ăn bánh chưng đen hình thù giống hệt bánh tét). Một số nơi ở Nam Trung Hoa, cụ thể là ở Tứ Xuyên cũng có bánh giống bánh tét. Và cách làm bánh mochi truyền thống của Nhật cũng rất giống cách làm bánh giầy. Từ đó, giáo sư Trần Quốc Vượng nhận định: “bánh chưng, bánh giầy là sản phẩm độc đáo của một nền văn minh lúa gạo rộng lớn ở Đông Á và Đông Nam Á. Tất nhiên, giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn cho ta biết là lúa nếp có loại hình đa dạng nhất và điển hình nhất là ở lưu vực sông Hồng. Bởi vậy nơi đây phong phú các lễ vật và món ăn được chế biến từ gạo nếp”.

Theo giáo sư Vượng, bánh chưng dài, bánh giầy tròn là biểu hiện của văn hoá Nõ - Nường. Bánh chưng nguyên gốc dài hình trụ tượng trưng cho Nõ (bộ phận sinh dục nam), bánh giầy tròn là Nường - (bộ phận sinh dục nữ). Còn trời tròn, đất vuông là thế giới quan ngoại lai, được người Việt ta tiếp thu sau này.

Quan điểm trên được nhiều người đồng ý nhưng cũng có nhiều người phản bác, cho là chưa thuyết phục, thiếu chứng cứ. Phản bác kịch liệt nhất là tác giả Phan Lan Hoa trong bài “Lạm bàn về nguồn gốc và ý nghĩa của bánh Chưng, bánh Dày” (lưu ý, bánh dày là cách viết của tác giả Phan Lan Hoa) đăng trên Văn hoá Nghệ An ngày 19/09/2014. Trong bài này, tác giả phản bác giáo sư Trần Quốc Vượng và những người đồng quan điểm rằng chiểu theo các mốc thời gian trong các truyền thuyết về sự ra đời của bánh chưng, bánh dày ở người Việt (ngang đời nhà Ân, khoảng ba nghìn năm trước) và bánh zongzi, thứ bánh nếp đậu gói lá của Trung Quốc được bắt đầu làm để là để tưởng nhớ ngày mất của nhà thơ Khuất Nguyên
(ngày 5 tháng 5 năm 278 trước Công nguyên) thì bánh chưng có trước bánh zongzi gần 750 năm. Tương tự như vậy, dựa vào truyền thuyết, suy ra bánh dày có trước bánh mochi đến hơn 1.700 năm.

Về điểm này, có thể thấy ngay tác giả Phan Lan Hoa dùng các truyền thuyết (mà truyền thuyết Việt về bánh chưng, bánh giầy được ghi chép lại sớm nhất là vào thời Trần trong cuốn Lĩnh Nam chích quái) để cộng trừ và so sánh như những cứ liệu lịch sử xác thực thì cũng kém thuyết phục.

Tác giả Phan Lan Hoa cũng bác bỏ ý kiến của giáo sư Vượng về ý nghĩa tượng trưng Nõ - Nường của bánh chưng, bánh giầy khi viết: Ông Trần Quốc Vượng đem bánh tét để ví với văn hoá Nõ Nường, tôi cho là một sự hư cấu văn hoá tuỳ tiện. Truyền thuyết Việt Nam ghi chép rõ ràng là “Sự tích bánh chưng, bánh dày”, chứ nào có ghi là sự tích bánh tét, bánh dày đâu? Với cả lại văn hoá Nõ Nường cũng chưa chắc là văn hoá Lạc Việt? Bởi trên trống đồng không có hình vẽ nào thể hiện văn hoá Nõ Nường cả? và trên thực tế hiện tượng Nõ Nường chỉ có ở vùng Phú Thọ, hai trung tâm văn hoá Việt cổ còn lại là lưu vực sông Mã và lưu vực sông Lam không phát hiện có loại hình văn hoá này?...

Tóm lại là vấn đề khá nhức não, để phân định đúng sai chắc cần thêm các nghiên cứu nghiêm túc. Theo tôi, điều này cũng chẳng ảnh hưởng gì đến độ ngon của bánh chưng và cả bánh giầy, cũng như những ký ức dân gian đẹp đẽ về chúng. Và mỗi độ xuân về, ta lại nâng niu cặp bánh chưng xanh, cẩn trọng đặt lên ban thờ thành kính dâng lên trời đất, thần linh, tiên tổ như bao đời nay vẫn thế.


Nguồn: https://congluan.vn/banh-chung-lan-man-chuyen-10329500.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Tắm mát mùa hè

Tắm mát mùa hè

Hòm phiếu di động

Hòm phiếu di động

Cập bến

Cập bến