Mặt bằng lãi suất thị trường có xu hướng giảm 

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cho biết, hiện nay, ngành ngân hàng đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đan xen và phức tạp. Kinh tế thế giới tiếp tục biến động khó lường, mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao cùng với gia tăng rủi ro địa chính trị đã tạo sức ép lớn lên công tác kiểm soát lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ.

Trong bối cảnh đó, NHNN Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu kép: Kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đi đôi với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. NHNN Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế. Các công cụ điều tiết được triển khai đồng bộ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối và bảo đảm thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng.

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB). Ảnh: PHƯƠNG THẢO 

Tại cuộc họp của NHNN Việt Nam và các ngân hàng thương mại ngày 9-4-2026, NHNN Việt Nam đã yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất tiền gửi của các giao dịch phát sinh mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân. Ngay sau cuộc họp, thực tế ghi nhận, nhiều ngân hàng thương mại đã nhập cuộc rất tích cực, chủ động triển khai việc giảm lãi suất, như: MB, Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV... Trong tháng 4-2026, mặt bằng lãi suất thị trường liên tục có xu hướng giảm, tạo tín hiệu tích cực cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân.

Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm gần đây đang tạo ra những áp lực nhất định đối với hệ thống ngân hàng. Cụ thể, tăng trưởng tín dụng đang cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Điều này khiến áp lực thanh khoản và lãi suất có xu hướng gia tăng. Đáng chú ý, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đang ở mức cao (số liệu tháng 3-2026 là tỷ lệ tín dụng/GDP đã vượt 144%), cho thấy nền kinh tế đang phụ thuộc quá nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng. Nếu tiếp tục dựa quá nhiều vào kênh tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro hệ thống và có thể gây hệ lụy cho nền kinh tế vì nguồn huy động của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn nhưng nhu cầu vốn của nền kinh tế lại mang tính trung hạn và dài hạn.

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB). Ảnh: PHƯƠNG THẢO 

PGS, TS Phùng Thanh Quang, Viện Ngân hàng-Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định: “Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn cho đầu tư cơ sở hạ tầng; sản xuất, kinh doanh; chuyển đổi số; chuyển đổi xanh và năng lượng. Khi tăng trưởng tín dụng cao kéo dài, áp lực thanh khoản và chi phí vốn của hệ thống ngân hàng gia tăng. Do đó, cần bảo đảm đủ vốn-đúng chỗ-chi phí hợp lý-bền vững”.

Trao đổi với phóng viên, TS Tô Hoài Nam, Ủy viên Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững, Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng: “Thực tế cho thấy tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động vốn. Riêng cuối tháng 4-2026, tín dụng tăng 4,42% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng chậm, tạo ra chênh lệch giữa tín dụng và huy động. Để cân bằng nguồn vốn, thanh toán và mặt bằng lãi suất của hệ thống ngân hàng là một bài toán rất lớn”. 

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vấn đề không chỉ là “có vốn hay không”, mà vốn có đến đúng khu vực sản xuất, đúng thời điểm, đúng chi phí và đúng năng lực hấp thụ hay không. Các số liệu thống kê cho thấy, chỉ khoảng 20-25% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn ngân hàng; nguyên nhân không chỉ từ phía ngân hàng mà còn từ tài sản bảo đảm, minh bạch tài chính, phương án kinh doanh và năng lực quản trị doanh nghiệp.

Do đó, cần chuyển từ tư duy “bơm thêm tín dụng” sang thiết kế hệ thống sinh thái vốn đa tầng. Ngân hàng vẫn là kênh chủ lực cho vốn lưu động, sản xuất, xuất, nhập khẩu. Nhưng vốn trung hạn và dài hạn cho hạ tầng, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, hậu cần, năng lượng, hỗ trợ công nghiệp phải được chia sẻ bởi thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, đầu tư, bảo đảm tín dụng, phát triển địa phương, FDI, cung cấp chuỗi tài chính mô hình. Đặc biệt, thu hút FDI cần gắn với yêu cầu liên kết thực chất với doanh nghiệp trong nước. FDI không chỉ là kênh “mang vốn” mà phải mang công nghệ, quản trị, thị trường và đơn hàng để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia chuỗi giá trị. Theo đó, nền kinh tế sẽ có thêm vốn đi kèm với tỷ lệ tăng trưởng nội lực tương xứng, TS Tô Hoài Nam nhấn mạnh.

Khơi thông nguồn vốn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Về mặt giải pháp bảo đảm cung ứng đủ vốn cho mục tiêu tăng trưởng, PGS, TS Phùng Thanh Quang kiến nghị: “Thứ nhất, cần đa dạng hóa nguồn cung ứng vốn, giảm sự phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, cần tăng cường vai trò của chính sách tài khóa trong việc cung ứng vốn cho tăng trưởng.

Cụ thể, cần phát triển mạnh thị trường vốn, có những cơ chế đặc thù để phát triển Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam VIFC, phát triển thị trường chứng khoán theo hướng rõ ràng, minh bạch, phát triển những tổ chức xếp hạng tín nhiệm để khơi thông nguồn vốn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Thứ hai, tăng cường thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, chuyển đổi xanh, tài chính xanh và logistics... Để thực hiện tốt chiến lược “xây tổ đón đại bàng”, cần tiếp tục giữ ổn định tỷ giá, lãi suất và duy trì cải cách theo hướng minh bạch, đơn giản hóa để giảm chi phí tuân thủ và tạo niềm tin chiến lược cho nhà đầu tư quốc tế. 

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) đồng hành với hộ kinh doanh trong tiếp cận các gói vay vốn với lãi suất ưu đãi, phù hợp. Ảnh: PHƯƠNG THẢO 

Thứ ba, cần định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới sáng tạo. Hạn chế dòng vốn đầu cơ vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, không gắn với sản xuất trực tiếp. Thứ tư, để tăng cường thu hút dòng vốn xanh, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn xanh thống nhất cho Việt Nam. Hiện nay, các nguồn vốn quốc tế có xu hướng gắn với các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Xây dựng bộ tiêu chuẩn xanh quốc gia, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ góp phần thu hút được dòng vốn quốc tế vào các lĩnh vực như tài chính xanh, trái phiếu xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển bền vững... Bộ tiêu chuẩn xanh không chỉ góp phần thu hút dòng vốn quốc tế chất lượng cao vào Việt Nam gắn với các lĩnh vực phát triển bền vững mà còn giúp hàng hóa của Việt Nam thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu ra thị trường quốc tế, đặc biệt với các thị trường lớn như EU và Mỹ. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam trong dài hạn”. 

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB). Ảnh: PHƯƠNG THẢO 

Về kiến nghị chính sách đa dạng nguồn cung ứng vốn, TS Tô Hoài Nam đề xuất cần tập trung vào 4 công việc: Giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không để tăng tốc gây “nghẽn” phục hồi; phát triển thị trường vốn minh bạch, kỷ luật nhưng thông thoáng; cung ứng khoản tín dụng mở rộng và trách nhiệm cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa kế toán, dòng tiền, hóa đơn, dữ liệu để đủ điều kiện vay vốn.

Có thể khẳng định, muốn tăng trưởng hai con số thì phải có dòng vốn lớn. Nhưng muốn tăng trưởng vững chắc hơn thì dòng vốn đó phải đa nguồn, dài hạn, minh bạch và đi vào khu vực sản xuất thật sự. Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, kiểm soát vốn hiệu quả cũng như sự chung tay góp sức từ các ngân hàng, thị trường chứng khoán và dòng vốn FDI. 

Nguồn: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/bao-dam-dong-von-cho-tang-truong-1042190