Trong màn sương cổ tích
Ông Thao La - một trong những chủ nhân của bảo vật chiêng tha kể rằng, bộ chiêng này gắn liền với câu chuyện từ thuở đất còn gần với trời. Một người con trai đi tìm lá thuốc chữa bệnh cho mẹ. Anh đi mãi, cách làng đã hàng trăm tiếng hú nối nhau mà vẫn không tìm được thuốc. Biết là mẹ mình sẽ qua đời, trong cơn tuyệt vọng, anh tìm đến một thác nước cao vút, bên trong là những hang sâu hét to lên: “Yàng ơi! Sao nỡ bắt mất mẹ của tôi. Nếu Yàng muốn bắt mẹ tôi đi thì phải cho tôi một thứ quý giá như người mẹ của tôi để sớm hôm tôi khỏi thương khỏi nhớ…”. Tiếng khóc của anh động đến Yàng. Yàng bèn sai một vị thần hóa thành con ruồi đậu vào vành tai đưa người con trai đi. Anh đi mãi vào trong hang đá sâu thẳm, hun hút và bắt gặp bộ chiêng. Biết là báu vật Yàng cho song anh không thể nào nhấc lên được, chỉ đến khi mang lễ vật đến hang cúng tế trời đất, lúc đó mới đem bộ chiêng về làng được. Đó chính là chiêng tha truyền lại cho người Brâu ngày nay.
Với quan niệm “vạn vật hữu linh”, đồ gia bảo nào cũng thường được đồng bào Tây Nguyên khoác lên mình một màn sương cổ tích như vậy. Thực chất, chiêng tha là loại chiêng được chế tác bằng kim khí cổ nhất mà người Brâu còn lưu giữ được. Giàn chiêng của đồng bào dân tộc Tây Nguyên hiện tại tối thiểu là 4 chiếc, tối đa có thể 12 -14 chiếc nhưng mỗi bộ chiêng tha chỉ có hai chiếc, gọi là “chiêng vợ” “chiêng chồng”. “Chiêng chồng” to hơn, và nếu đủ cặp thì người ta gọi là “Mui tăm ron”; còn chỉ đơn lẻ thì gọi là “Mui la tha”.
Là vật thiêng, chiêng tha chỉ được dùng cho những lễ hội quan trọng, ít nhất là cúng một bò trở lên. Cách đánh chiêng tha cũng khác với các loại chiêng khác. Khi đánh, chiêng phải được treo lên xà gỗ, hai người ngồi đối diện nhau, lấy bàn chân tì vào đế chiêng để giữ thăng bằng. Một người đánh, một người dùng dụng cụ gõ chọc vào hai chiêng. Chiêng tha không có giai điệu, chỉ có tiết tấu nhưng âm thanh thì vượt xa hẳn các loại cồng chiêng bình thường. Vừa trầm, bổng, vừa ngân nga có sức lan tỏa rộng. Người ở rất xa vẫn nghe rõ tiếng chiêng khi nó được tấu lên...
![]() |
| Ông Thao La với cặp chiêng tha của gia đình. |
Cần có giải pháp bảo tồn
Brâu là dân tộc ít người, cư ngụ lâu đời dọc biên giới Việt - Lào. Năm 1976, họ được dời ra định canh định cư tại thôn Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (nay là xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi).
Cũng như bao dân tộc khác, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Brâu lấy lễ hội làm nền tảng. Và tất nhiên, trong lễ hội không thể thiếu tiếng cồng chiêng. Người Brâu có nhiều loại chiêng khác nhau như chiêng goòng (đồn), chiêng mam (Lào) nhưng quý hiếm nhất vẫn là chiêng tha. Gia đình nào sở hữu được chiêng tha phải thuộc hàng giàu có, vì mỗi bộ chiêng tha phải đổi từ 30 con trâu trở lên.
Về chất liệu chế tác chiêng tha, hiện tại người ta cũng không biết được làm bằng hợp chất gì. Người Brâu chỉ nghe kể lại là nó được đúc bằng hợp kim vàng, bạc, đồng nguyên chất và đồng đen (?), kỹ thuật đúc cũng không được lưu truyền cho con cháu. Sự độc đáo của chiêng tha là mặt chiêng hoàn toàn phẳng lì, không có những vân, sóng gợn để phân chia âm thanh, tiết tấu. Theo “phán đoán” của ông Thao La, sở dĩ chiêng ngân theo những tiết tấu khác nhau là do kỹ thuật đúc chiêng, mà bí quyết về âm thanh là ở độ dày, mỏng khác nhau của mặt chiêng. Do kỹ thuật chế tác phức tạp lại thất truyền nên người Brâu ngày nay không ai biết đúc chiêng…
Thực ra, chiêng tha không phải do người Brâu chế tác. Theo một số nhà nghiên cứu thì chiêng tha có thể được chế tác từ Lào hay Miến Điện. Người Brâu chỉ là chủ sở hữu và phát huy. Chiêng tha được lưu truyền cho con cháu từ đời này sang đời khác như một “gia tài” truyền đời của họ tộc. Người trong họ ai được giao sở hữu không chỉ có uy tín mà còn phải giàu có - tức là người có “vía cứng”. Người Brâu tin rằng chỉ những người có “vía cứng” mới giữ nổi chiêng tha. Nếu vì một lý do nào đó mà người “vía cứng” trở nên “mềm” do làm ăn sa sút hoặc bởi những lý do bất khả kháng thì chiêng tha phải đưa ra khỏi nhà cất giấu, chờ khi nào chủ nhân làm ăn phát đạt trở lại - tức là vía trở nên “cứng” thì mới làm lễ cúng để rước chiêng về nhà… 10 bộ chiêng tha của người Brâu trước nay đều phải cất giấu bí mật ngoài rừng chính là vì lý do này..
Đã có những tay buôn đồ cổ hoặc dụng cụ âm nhạc “độc” lặn lội tìm đến làng Đăk Mế để gạ gẫm mua bán, trao đổi chiêng tha. Người dân Đăk Mế hiện còn nghèo, ai dám chắc một ngày nào đó họ sẽ không bị cám dỗ? Nguy cơ chiêng tha bị mất trộm cũng là điều đáng lo vì hiện tất cả đang được cất giấu ngoài rừng do chủ nhân của chúng đều “vía mềm”.
Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là chiêng tha có thể bị thất truyền về kỹ năng sử dụng. Hiện tại ở làng Đăk Mế chỉ một số ít người biết sử dụng thành thạo chiêng tha nhưng hầu hết đã cao tuổi. Theo những nghệ nhân này, đánh chiêng thì dễ nhưng kỹ năng “chọc chiêng” thì rất khó. Ông Thao La cho biết: “Lũ thanh niên trong làng bây giờ chỉ thích chơi nhạc mới, nhạc trẻ mà thôi!”. Cũng vì được coi là “gia tài” của họ tộc nên những gia đình đông con cái, khi lập gia thất đều phải được chia một phần trong bộ chiêng tha bằng cách quy ra giá trị tiền mặt hoặc gia súc, nếu nhà có hai anh em thì mỗi người sở hữu một cái nên “Mui tăm ron” chỉ còn lại “Mui la tha”.
Rất cần có những giải pháp bảo tồn để chiêng tha không còn nguy cơ bị mai một!
Ngọc Tấn
Nguồn: https://baodaklak.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoa/202603/chieng-tha-bau-vat-cua-nguoi-brau-69042c4/







Bình luận (0)