Nguồn lực bị phân tán, nền tảng thấp
Theo các chuyên gia, Nghị quyết 57/NQ-TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị xác định công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia, đóng vai trò then chốt trong công cuộc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với một quyết tâm chính trị rất rõ ràng, một số đơn vị chuyên trách đã bắt đầu hình thành, như Viện Công nghệ lượng tử thành lập 15-5-2025 trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Tập đoàn FPT đã thành lập viện nghiên cứu về lượng tử, coi lượng tử là một trong những trụ cột chính…
Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận, Việt Nam thiếu các chính sách cấp quốc gia, không có một chương trình quy mô tổng thể để phát triển công nghệ lượng tử; ngoại trừ một số hoạt động ở quy mô nhỏ được các đơn vị đặc thù tiếp cận liên quan đến an ninh, bảo mật.
Trong chia sẻ cụ thể, TS. Nguyễn Quốc Hưng, Viện trưởng Viện Công nghệ lượng tử, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, các hoạt động giảng dạy về vật lý lượng tử đã có từ rất lâu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hay tại các khoa vật lý của các trường Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa. Tuy nhiên, các chương trình này chưa được cập nhật xu hướng phát triển hiện đại của công nghệ lượng tử. Thêm nữa, năng lực hạ tầng và kỹ thuật hạn chế, doanh nghiệp gần như chưa tham gia vào công nghệ lượng tử.
TS. Nguyễn Quốc Hưng chỉ rõ, chưa có một kiến trúc điều phối cấp quốc gia, chưa có lộ trình phát triển thống nhất và cơ chế phân công trách nhiệm rõ ràng để điều phối giữa các khâu nghiên cứu, phát triển, ứng dụng. Việc thiếu khung điều phối liên ngành này có thể khiến nguồn lực bị phân tán theo các đơn vị hành chính thay vì được tập trung theo mục tiêu công nghệ. Do đó, các hoạt động vẫn diễn ra song song, chưa có sự cộng hưởng.
Có một khoảng cách khá lớn giữa nghiên cứu và ứng dụng, năng lực cốt lõi yếu, hay nói cách khác, việc xây dựng công nghệ lượng tử từ nền tảng rất thấp. Vậy nên, chưa có những năng lực chuyên biệt như phòng sạch, hệ thống làm lạnh sâu, hay các hệ thống đo lường rất chính xác. Việc thiếu các năng lực này khiến cho kết quả nghiên cứu ở gần giai đoạn phòng thí nghiệm hơn là có thể đưa vào thực tế.
Sự thiếu hụt nhân lực chuyên sâu, chưa có những nhà khoa học, các nghiên cứu sinh có kinh nghiệm; chưa có đội ngũ kỹ thuật mạnh và chưa có chương trình đào tạo về công nghệ lượng tử cũng là vấn đề đáng bàn.
Thêm nữa, cơ chế quản lý và đánh giá hiện nay chưa thực sự phù hợp với đặc thù của công nghệ có tính rủi ro cao và chu kỳ dài, trong khi chu kỳ ngân sách ngắn, quy trình đầu tư mua sắm gây ra những khó khăn cho việc mua sắm thiết bị chuyên dụng.
Cuối cùng là sự phân mảnh và thiếu kết nối giữa các nhiệm vụ. Các viện, trường bị ràng buộc bởi hệ thống đánh giá truyền thống hàn lâm; các doanh nghiệp và đơn vị sử dụng cuối thì chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro và thông tin.
Chia sẻ tại hội thảo mới đây về hiện trạng công nghệ lượng tử tại Việt Nam, các chuyên gia cũng nhìn nhận, những “điểm nghẽn” về năng lực, nhân lực, chính sách này còn ảnh hưởng mạnh hơn nữa bởi vì “chúng” không đứng một mình, mà có sự liên hệ với nhau, dẫn đến xuất hiện nhiều mâu thuẫn kiểu "con gà quả trứng"...
Trong khi đó, sự chuyển dịch về công nghệ lượng tử trên thế giới đã thay đổi nhanh chóng và các cường quốc công nghệ bắt đầu dựng lên các hàng rào để siết chặt việc kiểm soát xuất khẩu liên quan đến lượng tử một cách vô cùng gắt gao…
Lựa chọn chiến lược có trọng tâm
Cũng theo các chuyên gia, công nghệ lượng tử là một cuộc đua dài hạn với chi phí lớn trong khi đó, nghiên cứu cơ bản của nước ta còn thấp, hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn cũng chưa thực sự hình thành… Do vậy, từ "cú hích" Nghị quyết 57, các cơ quan chức năng cần có những hành động tích cực.
TS Nguyễn Quốc Hưng cho rằng, Chính phủ nên lựa chọn một chiến lược có trọng tâm thay vì dàn trải, sẽ làm tăng rủi ro về nguồn lực. Do vậy, cần phải tập trung vào những phân khúc phù hợp với nhu cầu trong nước và năng lực hiện có, như ưu tiên trục kỹ thuật số, mật mã hậu lượng tử, hay cảm biến chính xác cao.
Cùng với đó, nên sớm xây dựng một chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử với tầm nhìn dài hạn và cơ chế điều phối hiệu quả. Chương trình xác định rõ mục tiêu theo từng giai đoạn, từ nghiên cứu nền tảng đến phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực, đến thử nghiệm ứng dụng và thương mại hóa. Đồng thời, thiết lập một cơ quan điều phối quốc gia có khả năng tập hợp nguồn lực để điều phối hoạt động xuyên suốt giữa các bộ, ngành và các cơ sở nghiên cứu.
Phát triển nguồn nhân lực đi trước một bước với chương trình quốc gia để đào tạo nguồn nhân lực theo chuỗi dài hạn, kết hợp giữa đào tạo chuyên sâu và đào tạo tăng cường năng lực, đồng thời có các cơ chế để trọng dụng nhân tài. Cùng với đó là hợp tác quốc tế có chọn lọc, có tiếp cận thận trọng và có lộ trình theo từng giai đoạn với mục tiêu rõ ràng và có thể đo lường được.
Đề xuất về việc lựa chọn các hướng đi ưu tiên trong thời gian tới, PGS, TS. Ngô Xuân Bách, Giám đốc Viện Trí tuệ nhân tạo lượng tử và an ninh mạng, Tập đoàn FPT phân tích, cần cả đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia và đội ngũ kỹ sư ứng dụng. Việt Nam có lợi thế lớn là có đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học trẻ rất mạnh trong các lĩnh vực liên quan như toán, vật lý và công nghệ thông tin.
Đây là đội ngũ tiềm năng để bồi dưỡng thành nhân lực làm về lượng tử sau này. Vì công nghệ lượng tử là công nghệ liên ngành, kết hợp nhiều nền tảng khoa học khác nhau, đây là một hướng đi tốt cho việc đào tạo nguồn nhân lực.
“Song công nghệ lượng tử đòi hỏi sự đầu tư rất lớn, vì vậy nên có cơ chế điều phối để xây dựng một hạ tầng dùng chung tại Việt Nam, tránh tình trạng đầu tư nhỏ lẻ ở nhiều nơi dẫn đến việc không tạo ra được những nền tảng tính toán đủ mạnh”, ông Ngô Xuân Bách nói.
Để phát triển công nghệ lượng tử, GS. TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh, cần “đi sớm” về nhận thức, “đi chắc” về nền tảng và “đi đúng” vào những khâu phù hợp với điều kiện, năng lực và nhu cầu phát triển của đất nước.
Đồng thời nhấn mạnh, trong bối cảnh nguồn lực còn phân tán, việc xây dựng mạng lưới nòng cốt, hình thành các phòng thí nghiệm dùng chung, nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ chế kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã, đang phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan, các đối tác quốc tế để cập nhật xu thế, lựa chọn cách tiếp cận khả thi, vừa tránh đặt mục tiêu vượt quá năng lực thực tế, vừa không quá thận trọng để bỏ lỡ thời cơ chiến lược.
(Còn nữa)
Nguồn: https://hanoimoi.vn/cong-nghe-luong-tu-trong-ky-nguyen-so-bai-2-viet-nam-da-chuan-bi-nhu-the-nao-truoc-lan-song-luong-tu-1210285.html








