Theo truyền thuyết xưa, khi An Dương Vương lên ngôi vua đóng đô ở Cổ Loa, đặt tên nước là Âu Lạc. Để trị quốc an dân, nhà vua cho xây thành đắp lũy, thành xây xong lại đổ, lũy đào xong lại đầy, nhà vua cho lập đàn cầu tế thiên địa và được Thanh Giang sứ (tức rùa vàng) ứng báo tại ngọn núi Thất Diệu Sơn (tức núi Sái ngày nay) có con bạch kê tinh ẩn náu và phá phách việc xây thành của nhà vua. Nhà vua cùng đoàn tùy tùng gồm các quan đại thần trong triều đến ngọn núi Thất Diệu Sơn hành lễ, sau đó một thời gian thành được xây xong, góp phần tạo nên nền tảng vững chắc cho đất nước Âu Lạc thời kỳ đó.
Hằng năm, vào mùa xuân, vua chúa cùng các quan lại đích thân về đây bái yết. Về sau do thấy việc đi lại tốn hao tiền của, công sức của Nhân dân nên vua ban cho dân làng Thụy Lôi - xã Thụy Lâm được thực hành nghi vệ thiên tử, xưng quan tước, bái yết ngài. Từ đó, Lễ hội rước vua dần được hình thành và trở thành một lễ hội, một hoạt động văn hóa độc đáo của vùng quê Đồng bằng Bắc Bộ.
Trong lễ hội “rước vua” tất cả các động tác, tình tiết đều nhằm diễn lại tích xưa như việc vua chúa cùng đoàn tùy tùng về bái yết đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ. Khi kiệu chúa tới đền Thượng, vua xuống kiệu làm lễ ướm gươm, chém 3 nhát kiếm vào tảng đá cũ làm cho bát phẩm đỏ đổ ra, tục truyền đây là động tác chém đầu gà trắng (tức bạch kê tinh). Khi làm lễ bái vọng xong, vua cùng các quan về đình hành lễ.
Năm nay, phần lễ được tổ chức trang trọng với các nghi thức dâng hương, tế lễ cổ truyền, rước kiệu, đọc chúc văn ca ngợi công đức tiền nhân. Trong khi đó, phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ truyền thống, tạo nên bầu không khí rộn ràng nhưng vẫn giữ được sự trang nghiêm vốn có.
Nhiều du khách lần đầu tham dự chia sẻ rằng họ thực sự ấn tượng với không khí trang nghiêm của nghi lễ “rước vua giả”. Tiếng trống, tiếng chiêng vang vọng giữa núi khiến không gian như chậm lại, gợi cảm giác thành kính và thiêng liêng. Khi chứng kiến nghi thức chém bạch kê tinh được tái hiện trang trọng, không ít người cảm nhận rõ sự giao thoa giữa huyền thoại và đời sống, giữa lịch sử và tâm linh. Anh Hồng Trường (Cầu Giấy, Hà Nội) xúc động nói: “Tôi từng nghe kể nhiều về lễ hội rước vua giả, nhưng khi trực tiếp chứng kiến mới thấy hết được sự công phu và lòng thành kính của người dân nơi đây. Mỗi nghi thức đều mang chiều sâu văn hóa, không chỉ là diễn lại tích xưa mà còn là cách người dân gìn giữ ký ức lịch sử”.
Vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa. (Ảnh: TTXVN)
Chị Nguyễn Thị Huệ (Thư Lâm, Hà Nội) chia sẻ đầy tự hào: “Dù không trực tiếp tham gia vào đội rước hay các nghi thức tế lễ, nhưng mỗi năm đến hội đền Sái, tôi luôn cảm thấy trong lòng mình có một niềm xúc động rất đặc biệt. Từ nhỏ, tôi đã theo bố mẹ lên đền dâng hương đầu xuân, đứng xem đoàn rước vua đi qua trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng. Khi lớn lên, tôi càng hiểu rõ hơn về truyền thuyết An Dương Vương và ý nghĩa của lễ hội đối với quê hương mình.
Năm nay lễ hội được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tôi thực sự tự hào. Đó không chỉ là sự ghi nhận dành cho một nghi lễ truyền thống, mà còn là sự khẳng định giá trị văn hóa của cả một cộng đồng đã gìn giữ di sản qua bao thế hệ. Là người trẻ, tôi nghĩ trách nhiệm của mình không nhất thiết phải đứng trong hàng rước, mà là lan tỏa những câu chuyện đẹp về lễ hội, giới thiệu cho bạn bè gần xa hiểu hơn về đền Sái và làng Thụy Lôi. Tôi tin rằng khi thế hệ trẻ biết trân trọng và tự hào về truyền thống quê hương, thì những giá trị ấy sẽ còn được gìn giữ lâu dài”.
Các bạn trẻ tham dự Lễ hội lại bày tỏ sự thích thú trước phần hội sôi nổi với trò chơi dân gian. Nhiều bạn trẻ cho rằng Lễ hội không chỉ là dịp du xuân mà còn là “một lớp học lịch sử sống động”, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về truyền thuyết dựng nước, giữ nước và tinh thần cố kết cộng đồng của cha ông.
Khép lại một mùa hội đầu xuân rộn ràng, Lễ hội đền Sái không chỉ để lại dư âm của tiếng trống, tiếng chiêng vang vọng núi non, mà còn đọng lại trong lòng người tham dự niềm tự hào sâu sắc về cội nguồn dân tộc. Việc Lễ hội được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là sự ghi nhận xứng đáng cho hành trình gìn giữ bền bỉ của bao thế hệ người dân Thụy Lôi.
Giữa nhịp sống hiện đại ngày càng hối hả, những nghi lễ cổ truyền vẫn được bảo tồn nguyên vẹn, điều đó cho thấy sức sống bền bỉ của di sản văn hóa khi được nuôi dưỡng bằng lòng thành kính và ý thức trách nhiệm cộng đồng. Lễ hội không chỉ tái hiện một huyền tích xa xưa gắn với công cuộc dựng nước, mà còn góp phần bồi đắp tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các thế hệ trong làng, trong xã.
Đặc biệt, sự tham gia và quan tâm của lớp trẻ hôm nay chính là tín hiệu đáng mừng cho tương lai của Lễ hội. Khi người trẻ hiểu, yêu và tự hào về truyền thống quê hương, di sản sẽ không chỉ nằm trong ký ức mà tiếp tục được lan tỏa bằng nhiều cách sáng tạo, phù hợp với thời đại.
Nguồn: https://baophapluat.vn/doc-dao-le-hoi-den-sai-dip-dau-xuan.html







Bình luận (0)