Để thực hiện điều đó, Đà Nẵng cần tiến hành các bước một cách chặt chẽ, bài bản để tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố.
“Làng còn thì Nước còn!”
Thực tế cho thấy, giai đoạn 2019 - 2021, cả nước đã tinh giản, sáp nhập hơn 15.000 thôn, tổ dân phố, đưa tổng số còn khoảng 90.500 đơn vị. Tuy nhiên, nhiều thôn, tổ dân phố vẫn còn bất cập về dân số, diện tích hoặc đặc thù miền núi, hải đảo, nhất là tên gọi của làng/ thôn/ khu phố mới vẫn còn những tiếng nói trái chiều. Điều đó đặt ra yêu cầu cần nhận diện sâu sắc các yếu tố lịch sử, văn hóa và cấu trúc cộng đồng, nhằm bảo đảm rằng mỗi làng/ thôn/ khu phố không chỉ “đúng chuẩn” về quản lý, mà còn bền vững về bản sắc và đời sống xã hội và “hợp lòng dân”.
Trước thời điểm hình thành đơn vị hành chính Đà Nẵng mới, tại Quảng Nam - nơi có rất nhiều làng xã, thôn đi vào sử sách của dân tộc - song việc sáp nhập vẫn để lại nhiều tâm tư, thắc mắc cho người dân khi làng mới được đặt tên.
Không ít địa danh từng ăn sâu trong ký ức cộng đồng lại bị thay thế bằng những tên gọi khô cứng, cơ học, ví như: Làng Giao Thủy (nay thuộc xã Đại Lộc), từng đi vào lịch sử, thơ ca, nhạc họa, nhất là qua tác phẩm Quê Nội của Võ Quảng, nơi người Pháp đặt “tiệm ươm tơ Giao Thủy” đầu tiên ở Trung Kỳ, lại được đặt tên là “Thôn Một” sau khi sáp nhập thêm một bộ phận cư dân gần đó!?
Tương tự, làng Vân Hà - cái nôi nghề mộc được sắc phong từ thời Thành Thái, nay đổi thành “thôn Phú Văn”; làng Trừng Giang (quê ngoại của Thượng thư Phạm Phú Thứ), đang được xem xét đổi thành “Hà Giang”; làng Phú Lâm (Tiên Phước), gắn với chí sĩ Lê Cơ buổi Duy tân thuở trước, nay được dự kiến ghép thành “Tiên Cẩm”… Những cách đặt tên “số hóa”, “lai ghép” đó đã vô tình cắt đứt mạch nối lịch sử, văn hóa đã được luân chuyển hàng trăm năm, làm phai nhạt bản sắc và khiến người dân cảm thấy như mất đi một phần cội nguồn, máu thịt của mình.
Dưới góc nhìn lịch sử, có thể thấy rằng, tên làng không đơn thuần là ký hiệu hành chính, mà là kết tinh của ký ức, tâm thức cộng đồng qua nhiều thế hệ. Một địa danh cũ gợi lên không chỉ không gian cư trú mà còn là niềm thương, nỗi nhớ, là biểu tượng của sự an cư và khát vọng sống vững bền, không phải ngẫu nhiên các học giả nghiên cứu về sức sống bền bỉ của Việt Nam đều xác quyết rằng “Làng còn thì Nước còn”, để thấy vai trò to lớn của làng. Việc tìm kiếm, đặt tên một làng/ thôn/ khu phố mới không chỉ nhằm phục vụ quản lý mà còn là hành động “kiến tạo ký ức” cho tương lai.
Vì lẽ đó, theo tôi Đà Nẵng cần tiếp cận vấn đề đặt tên làng/ thôn/ khu phố mới với thái độ thận trọng, khoa học và bài bản, không thể xem đây là một thao tác hành chính đơn thuần; cần tham vấn ý kiến của các nhân sĩ, trí thức, nhà nghiên cứu, nhất là tôn trọng tâm tư, nguyện vọng của người dân tại nơi các làng/ thôn/ khu số sắp sáp nhập.
Để “Đất nước là quê hương!”
Theo chúng tôi, để thực hiện một cách thông suốt, hợp lòng dân, tôn trọng yêu cầu về lịch sử, văn hóa của làng xã trong bối cảnh Đà Nẵng chuẩn bị triển khai sắp xếp lại các làng/ thôn/ khu phố theo yêu cầu tinh gọn bộ máy, cần làm tốt các yêu cầu sau: Trước hết, tên gọi mới sau khi sáp nhập nhiều làng/ thôn/ khu phố với nhau phải xuất phát từ chiều sâu lịch sử của làng.
Những địa danh cổ đã được ghi nhận trong thư tịch (ví dụ hơn 60 làng của Quảng Nam trong Ô Châu cận lục) hay ký ức lịch sử, văn hóa dân gian cần được ưu tiên kế thừa, thay vì tùy tiện đặt mới (ví như Phong Lệ, Lâm Viên, Hương Quế, Lộc Yên, Gia Cốc, Cẩm Phô…).
Thứ hai, yếu tố nghề nghiệp truyền thống cần được xem là một căn cứ quan trọng. Những địa danh gắn với các nghề từng “vang bóng một thời” như ươm tơ, dệt chiếu (Mã Châu, Yến Nê, Bàn Thạch…), làm nước mắm (Nam Ô, Tân Thái, Cửa Khe…), Trà Quế, La Bông, Thu Bồn, làng đá Non Nước… không chỉ phản ánh sinh kế mà còn là dấu ấn văn hóa đặc sắc, cần được bảo tồn trong tên gọi mới.
Thứ ba, có thể lấy các di tích lịch sử, địa danh gắn với các phong trào, sự kiện lịch sử tiêu biểu làm “trục trung tâm” để đặt tên, đồng thời sáp nhập các làng phụ cận (ví dụ Ngũ xã Trà Kiệu, Hải Châu chính xã, Xuân Thiều (nơi Mỹ đổ quân đầu tiên), Khuê Trung, An Hải)… qua đó tạo nên một không gian văn hóa có tính liên kết và nhận diện rõ ràng.
Thứ tư, cần chú trọng các yếu tố địa lý, xã hội như sông, bến, khe, hay những tên gọi dân gian giàu hình tượng (ví như: Khe Tre, Hố Lấm, Bến Đền, Bến Ván, Bà Rén, Sông Yên)… là những gia tài quý giá mà tổ tiên để lại và được con cháu giữ gìn qua bao bận can qua…
Đối với trường hợp ghép tên giữa các đơn vị, chỉ nên thực hiện khi bảo đảm sự hài hòa về ngữ âm và phù hợp với truyền thống; nếu không, cần mạnh dạn chọn tên của địa phương có bề dày lịch sử, văn hóa tiêu biểu làm tên chung. Đặc biệt, tuyệt đối tránh đặt tên theo số thứ tự (số hóa) cho các làng/ thôn/ tổ dân phố mới chỉ với cái cớ “dân các làng sáp nhập không đồng thuận”, trường hợp này chính quyền địa phương cần quyết định giữ lại tên làng gốc tiêu biểu nhất để bảo toàn tính liên tục của lịch sử, văn hóa địa phương.
Thiển nghĩ, UBND thành phố Đà Nẵng cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc sáp nhập, đặt tên làng/ thôn/ khu phố mới để các phường, xã có cơ sở triển khai thực hiện (và quyết định trên cơ sở các phường, xã căn cứ thực tế địa phương đề xuất lên) nhằm tạo sự đồng thuận nhanh chóng của người dân, tránh mạnh ai nấy làm sẽ gây những ý kiến, xáo trộn không đáng có.
Chính quyền các phường, xã phải làm tốt công tác tổ chức lấy ý kiến, bầu chọn tên, nhất là coi trọng ý kiến của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa và cộng đồng dân cư các làng/ thôn/ khu phố sẽ sáp nhập và đặt tên mới. Cùng với đó, việc phân công, bố trí đội ngũ cán bộ và người hoạt động không chuyên trách tại làng/ thôn/ khu phố cần được tiến hành đồng bộ với quá trình sáp nhập, bảo đảm lựa chọn những người am hiểu địa bàn, có uy tín và năng lực quản trị cộng đồng; mọi thay đổi phải hướng đến duy trì tính ổn định và liên tục trong quản lý, dân sinh và cung ứng dịch vụ công, bởi yêu cầu của sáp nhập không chỉ là giảm đầu mối, mà phải nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Cuối cùng, cần quán triệt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân các xã, phường và người dân các làng/ thôn/ khu phố trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tinh thần mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra, rằng: Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, chúng ta phải thay đổi về tư duy, tầm nhìn; thống nhất về nhận thức, tư tưởng; phải vượt lên chính mình, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của đất nước; vượt qua những băn khoăn, lo lắng, tâm lý, thói quen bình thường; vượt qua những tâm lý, tâm trạng vùng miền để hướng tới tư duy, tầm nhìn rộng lớn hơn: “Đất nước là quê hương!”.
Nguồn: https://baodanang.vn/giai-phap-nao-de-sap-nhap-lang-khu-pho-tai-da-nang-3332119.html








Bình luận (0)