Xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng đủ mạnh, hiệu quả,
Liên kết vùng phải chuyển từ khuyến khích sang ràng buộc, từ phân tán sang tích hợp, đó là điều kiện để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đây là đề nghị của ĐBQH Trịnh Ngọc Phương (Tây Ninh).
Theo đại biểu, đến đầu năm 2026, nước ta hiện có 6 vùng kinh tế - xã hội, trong đó không gian phát triển được tổ chức theo hướng vùng động lực kinh tế và trung tâm tăng trưởng mới, với việc đẩy mạnh phát triển 4 vùng kinh tế trọng điểm. Tuy nhiên, liên kết hiện nay chủ yếu là kêu gọi hoặc thỏa thuận, chưa phải là ràng buộc. Từ đó việc chênh lệch phát triển giữa các vùng là điều khó tránh. Nếu khoảng cách giãn quá rộng và kéo dài sẽ tạo ra nhiều hệ quả không chỉ về kinh tế mà còn về xã hội và vấn đề quản trị.
Đại biểu phân tích, những vấn đề nổi lên đó là, mất cân đối lao động và dân cư. Theo đó, nguồn lao động sẽ dồn về vùng phát triển mạnh như TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội và các thành phố lớn khác, các vùng yếu thế sẽ bị chia sẻ nguồn lực trẻ và nguồn lực có kỹ năng, tạo áp lực và quá tải về nhà ở, y tế, giáo dục, hạ tầng lên các đô thị lớn, hệ quả nơi thiếu người làm, nơi quá tải để sống.
Đáng lưu ý, vùng phát triển mạnh thì thu nhập cao, nhiều việc làm tốt, vùng chậm phát triển ít việc làm, ít cơ hội, sẽ dẫn đến bất bình đẳng, từ đó tạo tâm lý so sánh, dẫn đến thiếu niềm tin về chính sách vùng nếu kéo dài…
Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phát triển rất cao, đó là phấn đấu đạt mức tăng trưởng 2 con số và tăng trưởng cao hơn trong những năm tiếp theo, đại biểu Trịnh Ngọc Phương nhấn mạnh, đây không chỉ là mục tiêu kinh tế mà là yêu cầu tái cấu trúc lại không gian phát triển quốc gia. Vì vậy, cần nhìn nhận thẳng thắn, Việt Nam là một nền kinh tế thống nhất, nhưng cách vận hành vẫn còn phân tán theo địa giới hành chính.
Từ thực tế trên, đại biểu đề nghị, cần chấp nhận phân vai phát triển và điều chỉnh lợi ích cục bộ. Nghĩa là vùng nào là vùng dẫn dắt, vùng nào là hỗ trợ hay vùng nào là vệ tinh. Không thể mỗi địa phương đều theo đuổi cùng một mô hình, muốn tối ưu cho cả vùng phải có sự phân công rõ ràng và chấp nhận hy sinh cục bộ trong ngắn hạn để đạt hiệu quả tổng thể trong dài hạn.
Đại biểu cho rằng, cần thiết lập cơ chế điều phối vùng có thực quyền trong một lĩnh vực mang tính mệnh lệnh, đặc biệt đối với hạ tầng chiến lược như logictis, năng lượng. Nếu vẫn chỉ dừng ở cơ chế thỏa thuận sẽ rất khó tạo ra đột phá.
Cùng với đó, phải tập trung nguồn lực quy mô lớn, tránh dàn trải; phải rút ngắn thời gian thực thi chính sách và dự án; phải gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả phát triển vùng.
Cuối cùng, cần mở rộng không gian phát triển vượt ra khỏi ranh giới hành chính, tổ chức lại nền kinh tế theo hành lang chuỗi liên kết và hệ sinh thái ngành.
Đại biểu Trịnh Ngọc Phương nhấn mạnh, liên kết vùng phải trở thành mệnh lệnh phát triển, có ràng buộc, có chia sẻ lợi ích, đặc biệt phải có danh dự và trách nhiệm chính trị trong đó.
Cũng quan tâm đến liên kết vùng, ĐBQH Lý Tiết Hạnh (Gia Lai) cho rằng, đã đến lúc cần xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng đủ mạnh, hiệu quả, hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm có sức lan toả, dẫn dắt, làm đòn bẩy kinh tế.
Lấy kỹ năng, năng lực thực tiễn làm trung tâm thay cho tư duy nặng về bằng cấp
Một số đại biểu cũng quan tâm đến vấn đề xã hội, dân số và lao động đang nổi lên như những thách thức mang tính cấu trúc tác động trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng và triển vọng phát triển bền vững của đất nước.
Để vượt qua những thách thức này, ĐBQH Trần Thị Hồng Thanh (Ninh Bình) đề nghị Chính phủ phải chủ động thích ứng với già hóa dân số, tái cấu trúc hệ thống an sinh xã hội theo hướng đa tầng, linh hoạt, bao trùm. Đồng thời, có chính sách dân số phù hợp để duy trì mức sinh hợp lý, chuyển hóa thách thức dân số thành cơ hội phát triển, biến áp lực lao động thành động lực tăng trưởng.
Đại biểu đề nghị, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực, cải cách căn bản giáo dục, đào tạo theo hướng gắn chặt với thị trường lao động, lấy kỹ năng, năng lực thực tiễn làm trung tâm thay cho tư duy nặng về bằng cấp. Nếu không chuyển từ đào tạo những gì nhà trường có sang đào tạo những gì thị trường cần, thì nguồn nhân lực dù đông vẫn không trở thành lợi thế cạnh tranh.
Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ và kinh tế số; hỗ trợ đào tạo lại, chuyển đổi nghề cho người lao động. Nếu không đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao kỹ năng, Việt Nam sẽ mắc kẹt trong bẫy năng suất thấp, nơi lao động vẫn đông nhưng giá trị tạo ra lại không cao.
Đẩy nhanh xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động hiện đại dựa trên dữ liệu số, kết nối đồng bộ giữa các lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, giáo dục, việc làm, từ đó dự báo chính xác cung cầu lao động. Nếu không xây dựng được hệ thống thông tin lao động hiện đại, sẽ không thể điều hành hiệu quả nguồn nhân lực quốc gia.
Cải cách mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp, nâng cao vị thế đào tạo nghề gắn đào tạo với doanh nghiệp để người lao động học là làm được việc, khi người học nghề có thể ra trường là làm được việc, làm tốt việc thì giáo dục nghề nghiệp mới thực sự trở thành động lực của tăng trưởng.
Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, đặc biệt với khu vực phi chính thức, tiến tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Đây chính là trụ cột bảo đảm ổn định xã hội trong dài hạn, một xã hội chỉ thực sự phát triển bền vững khi mỗi người dân, đặc biệt là người lao động đều có tấm lưới an sinh bảo vệ mình trong suốt vòng đời.
Đại biểu nhấn mạnh, những thách thức xã hội hôm nay không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà là thước đo năng lực kiến tạo phát triển của chúng ta. Nếu không xử lý căn cơ, đó sẽ là rào cản lớn đối với tăng trưởng, nhưng nếu hành động đúng và trúng đây sẽ là cơ hội để Việt Nam chuyển mình xây dựng một nền kinh tế không chỉ tăng trưởng nhanh mà còn phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và hội nhập sâu rộng như hiện nay, nhân tố con người vẫn là nhân tố hạt nhân của mọi sự phát triển. Do vậy, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh đề nghị, cần có chính sách tăng cường hợp tác công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực, trong đó khuyến khích liên kết giữa chính quyền, nhà trường, doanh nghiệp để đào tạo, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất trên một số các ngành, lĩnh vực mới mà Việt Nam hiện đang thiếu nguồn nhân lực; khuyến khích mô hình đào tạo Stem nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực thực hành trong từng lĩnh vực, từng ngành nghề.
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/lien-ket-vung-menh-lenh-phat-trien-co-rang-buoc-chia-se-loi-ich-10415435.html







Bình luận (0)