Thuận theo thế nghiêng Tây Bắc – Đông Nam của địa hình nước ta, các con sông đều chảy xuôi về Biển Đông. Riêng sông Kỳ Cùng thì không. Bắt nguồn từ vùng núi xã Bắc Xa cao 1.166m, sông chảy theo hướng chủ đạo Đông Nam- Tây Bắc qua thành phố Lạng Sơn, đổi hướng Nam - Bắc tới xã Na Sầm, rồi lại đổi hướng thành Đông Nam - Tây Bắc trước khi rẽ sang hướng Đông ở gần xã Thất Khê. Từ Thất Khê, sông chảy gần như theo đường vòng cung, rồi uốn khúc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam tới biên giới Trung Quốc, đổ vào lưu vực sông Tây Giang (Trung Quốc).
Thoạt nghe, thật khó hình dung một con sông có thể “chảy từ thấp lên cao”. Nhưng thực chất, Kỳ Cùng đã khéo léo men theo các triền dốc địa hình vùng núi Lạng Sơn, chọn cho mình một hành trình riêng. Cuối cùng, như mọi dòng sông khác, Kỳ Cùng vẫn tìm về Biển Đông, chỉ là bằng một con đường khác – quanh co, uốn lượn giữa trùng điệp núi non và những bản làng yên bình của Xứ Lạng mến yêu.
Nói về sông Kỳ Cùng như thế, là để dẫn vào câu chuyện về sông Na Sầm, tên gọi của sông Kỳ Cùng đoạn qua thị trấn Na Sầm (cũ), nay thuộc xã Na Sầm.
Sông Na Sầm (Có thời được gọi là sông Trung Sơn) dài khoảng 2,5 km. Được tính từ nam thôn Nà Chà, sông chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc rồi chuyển sang hướng Đông Nam- Tây Bắc, đến khu I lại chuyển hướng Tây Nam- Đông Bắc, đến cửa suối Bản Tích chuyển hướng Đông Bắc- Tây Nam, chảy dưới chân Phjia Mòn, đến Tân Hội lại đối hướng Đông Bắc- Tây Nam đi ra khỏi phạm vi thị trấn. Lưu lượng bình quân của sông là 1300m3/s. Trước đây nước ở sông gần như trong suốt, quanh năm không màu, không mùi vị nên người dân có thể khai thác không cần xử lý, sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt hàng ngày và sản xuất suốt một thời gian dài, cho đến những năm 90 của thế kỷ XX.
Sông Na Sầm được tiếp nước bởi suối Bản Tích, suối Hoàng Việt phía bờ phải, và suối Nà Chà ở phía bờ trái. Đoạn từ Nà Chà đến Khu I lòng sông khá rộng, nước nhiều, uốn lượn quanh co, hai bên bờ là đồi đất thấp và rặng tre xanh ngắt, có thế khai thác làm khu du lịch sinh thái, thả thuyền đưa khách ngắm cảnh sông nước.
Khúc sông chảy qua thôn I, có một cái đập được đắp ngăn nước làm thủy lợi. Đó là thực hiện chủ trương thủy lợi hóa phục vụ nông nghiệp, vào cuối những năm 1960, công trình Trạm thủy điện Na Sầm đã được xây dựng và hoàn thành, nhằm đưa nước sông Kỳ Cùng phục vụ tưới tiêu cho 85 ha ruộng thuộc xã Tân Lang vốn trước đây thiếu nước khô cằn khó khăn cho việc canh tác lúa nước và các cây công nghiệp khác. Đập thủy lợi cũng ngăn nước để tạo điện năng phục vụ chiếu sáng cho khu vực huyện lỵ, đồng thời trợ giúp sản xuất nông nghiệp như cung cấp điện cho các trạm bơm nước.
Từ đập thủy điện trở về cửa suối Bản Tích thì lòng sông nhiều đá ngầm, có dải đá to gần như chiếm hết ngang lòng sông. Cũng bởi vùng núi đá vôi nên nước trên mặt sông thiếu do nước bị hút xuống, về mùa khô thì có thể men trên những phiến đá ngầm mà lội qua sông được.
Theo văn bia khắc trên vách núi Phjia Mòn – ngọn núi sừng sững in bóng xuống dòng sông – vào thế kỷ XVIII, Đốc trấn Ngô Thì Sĩ từng đỗ thuyền dưới chân núi, chỉ huy quân sĩ luyện tập thủy chiến trên sông. Điều đó cho thấy khi ấy, sông Na Sầm từng rộng và sâu, mực nước dâng cao đến sát chân núi. Xa hơn nữa, vào thế kỷ XIII, sông Kỳ Cùng đã đi vào chính sử. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép việc vua Trần Thái Tông thân chinh dẫn quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình (thuộc châu Khâm, châu Liêm) của nước Tống bằng đường bộ, sau khi chiến thắng đã dùng thuyền nhẹ trở về bằng đường thủy. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đoàn thuyền đã đi qua đoạn sông Na Sầm, ngược dòng Kỳ Cùng về Lạng Sơn.
Sau này, sông Na Sầm trở thành một đầu mối giao thông quan trọng, khiến cho phố Na Sầm trở thành một vùng đất “trên bến, dưới thuyền”. Ấy là vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn đến Đồng Đăng. Sau đó “người ta làm tiếp một đoạn 17 km từ Đồng Đăng lên Na Cham nối với đoạn sông tàu bè đi lại được của sông Kỳ Cùng. Đoạn này được khai thác từ ngày 15 tháng 11 năm 1921” và Ga Nacham (Na Sầm)- ga xe lửa cuối cùng trên tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn cũng được xây dựng và đi vào hoạt động.
Nhà Ga xe lửa Nacham nối liền với bến cảng sông, trên bến là phố chợ cửa hàng san sát, dưới sông thuyền bè ra vào tấp nập. Sách “Văn Lãng đất và người” của Tiến sĩ Hoàng Văn Páo và sách “Na Sầm- Thị trấn vùng biên” của Vương Toàn- Phạm Văn Thanh đều ghi nhận: “Có một thời kỳ, tuyến đường sông Long Châu (Trung Quốc)- Na Sầm, dài khoảng 50 km đã được khai thác. Vào những ngày nước to, thì thuyền lớn (thuyền tam bản trọng tải 3 tấn) có thế đến tận Bản Tích. Số lượng thuyền hoạt động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vào năm 1922 được thống kê là 918 thuyền các loại, trong đó loại trọng tải từ 0, 6 tấn đến 6 tấn có 8 cái.”
Hình ảnh “trên bến dưới thuyền” ở thị trấn Na Sầm những năm đầu thế kỷ XX đã trở nên rất quen thuộc với hoạt động kinh tế của khu vực Bắc Bộ thời thuộc Pháp. Từ Ga xe lửa Nacham, hàng hóa tấp nập chuyển xuống bến sông để chuyển tiếp sang Long Châu, Trung Quốc. Trong nội địa thì một số loại thuyền nhỏ cũng có thể đi lại trên sông, từ khu vực Lộc Bình, qua Kỳ Lừa đến Na Sầm, lên Tràng Định, phục vụ cho giao thông và chuyên chở hàng hóa. Cùng với Ga xe lửa, Bến cảng sông Na Sầm đã tạo điều kiện cho phố Na Sầm ngày xưa trở thành một trong những cửa ngõ thông thương với biên giới Việt- Trung, phát triển thành một trung tâm buôn bán sầm xuất, nhộn nhịp, thu hút số lượng người từ các tỉnh miền xuôi và Hoa kiều đến làm ăn sinh sống.
Trải qua một thế kỷ, thị trấn giờ không còn vết tích gì của Ga xe lửa Nacham và Bến cảng sông Na Sầm nữa.
Giờ nước sông Na Sầm ít đi, lòng sông nhỏ lại. Hàng năm lượng nước sông lên xuống theo mùa. Mùa mưa sông chuyển màu đỏ đục, nước dâng ngập cầu, đến tận bãi rau trên bờ phải. Mùa khô thì sông hiền hòa, trong xanh, nhiều đoạn các vỉa đá ngầm nhô lên, rất đẹp.
Có dịp trò chuyện với nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Hoàng Choóng, nguyên Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện Văn Lãng, tôi được nghe ông kể lại là từ thời còn nhỏ, ông đã được nghe những câu chuyện về mảnh đất Na Sầm và đoạn sông Kỳ Cùng chảy qua đây. Rằng có thời xa xưa lắm, gặp nạn hồng thủy, nước sông dâng lên, ngập mênh mông bể sở, chỉ còn vài ngọn núi cao còn nhô lên khỏi mặt nước. Nên mới có câu “Khau Kheo nhằng đo tu méo dú, Khau Khú nhằng đo pú nòn, Phjie Mòn nhằng đo lình khỉn, Khau Slin nhằng tảy ăn dạ, Khau Mịa nhằng tảy ăn khươn”. ( Khau Kheo- Khau Mười còn đủ chỗ con mèo nằm, Khau Khú còn đủ chỗ ông lão ngủ, Phjie Mòn đủ chỗ con khỉ trèo, Khau Slin còn bằng cái rá, Khau Mạ còn bằng cái giỏ). Và đó chính là bối cảnh sinh ra “Truyền thuyết Háng Slẹc’ về sự tích núi Phjie Mòn còn lưu truyền đến ngày nay.
Trên sông Na Sầm, đoạn gần cửa suối Bản Tích đổ vào, có một hòn đảo đá, người Na Sầm gọi là Đoong Pha. Theo ông Hoàng Choóng, đoong pha nghĩa là mai rùa, chắc vì hòn đảo có hình dạng như một chiếc mai rùa khổng lồ nổi trên mặt nước.
Cách đây vài chục năm, Đoong Pha rất gần bờ. Nó là một đảo đá ngầm, ăn sâu dưới lòng sông, phần nổi trên mặt nước vào mùa đông chiếm đến 2/3 bề ngang sông. Từ bến sông, chỉ cần xắn quần lội mấy bước trên tảng chân chìm của nó là bước lên đảo. Trẻ con, người lớn nếu đi giày vải hoặc sợ ướt chân thì nhờ bạn cõng qua. Gọi là cõng, chứ thật ra là nhảy lên lưng bạn, bạn quay người một cái thì đã đứng lên đảo rồi! Giờ thì đảo cách bờ đến chục mét, là vì sông Kỳ Cùng lở về bên phố Na Sầm. Hồi tôi còn nhỏ nghe người lớn kể chuyện, có người kỹ sư Trung Quốc sang giúp xây đập thủy điện, đã dự đoán là vài chục năm sau phố Na Sầm sẽ không còn nguyên vẹn vì bờ sông lở này. Giờ cũng gần trăm năm rồi, quả là phố cũng bị sông ăn lở một phần vườn bãi, nhưng huyện Văn Lãng và thị trấn Na Sẩm (cũ) đã đầu tư làm kè bờ sông, vừa chống lở vừa tạo thành cảnh quan, đường đi bộ, ngắm cảnh sông nước hữu tình cho nhân dân và du khách.
Sông Na Sầm - một khúc của sông Kỳ Cùng - chứa đựng trong lòng biết bao huyền tích qua mấy ngàn năm đồng hành cùng lịch sử của mảnh đất Xứ Lạng thân thương. Còn nhiều những câu hỏi, những băn khoăn trăn trở, mong các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sử, những người yêu quý quê hương tiếp tục nghiên cưú và giải đáp: Sông Na Sầm, sông Kỳ Cùng có phải là một trong những con đường đi sứ của các triều đại phong kiến Việt Nam xưa? Có phải là một trong những con đường thiên di của những thế hệ người phương Bắc tìm đến an cư lập nghiệp tại mảnh đất phương Nam yên bình, trù phú? Và những biến đổi khí hậu, địa chất nào đã rút lượng nước dồi dào xưa kia vào sâu trong lòng đất, để sông hôm nay trở nên nhỏ bé, hiền hòa, khiêm nhường đến nhường kia?
Dẫu câu trả lời còn ở phía trước, thì với người Na Sầm, dòng sông ấy mãi là ký ức, là linh hồn của một vùng đất từng có một thời trên bến dưới thuyền.
Nguồn: https://baolangson.vn/mot-thoi-tren-ben-duoi-thuyen-5070571.html







Bình luận (0)