Hình thức sớm nhất của nha (牙) là ký tự kiểu Kim văn thời Tây Chu, nghĩa gốc là "răng, răng hàm". Nha còn là "ngà voi" hoặc những thứ giống như răng; hay lá cờ của vị tướng thời xưa. Trong từ ghép, nha chỉ nơi làm việc của quan chức (nha môn, nha sở); người trung gian, giới thiệu mua bán (nha tử); người môi giới (nha nhân); người mối lái (nha quái) hay chỉ cấp phó (nha tướng: phó tướng); hoặc người phụ việc: sai nha (viên chức cấp thấp để quan sai bảo việc vặt)...
Sĩ (士) là ký tự xuất hiện lần đầu trên các bia đồng thời Tây Chu, nghĩa gốc là quan cai ngục (thời Ngũ Đế); về sau mở rộng, chỉ thanh niên chưa vợ, người đàn ông hoặc chỉ cấp bậc thấp nhất của giới quý tộc thời kỳ tiền Tần, dưới tước vị Đại Phu (Tư trị thông giám).
Sĩ còn có nghĩa là học giả (Bạch Hổ Thông. Tước); người có học vấn, chuyên gia hoặc người làm việc trong một lĩnh vực nhất định; là quan phụ trách tư pháp (Chu Lễ. Đại Tư Đồ); binh sĩ (Tả truyện). Sĩ còn là từ thân mật, khen người có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất tốt; hoặc là cách xưng hô của lãnh chúa, quan lại khi gặp hoàng đế (Lễ Ký). Vào thời cổ đại sĩ là một trong 4 tầng lớp xã hội (cùng với nông, công, thương)...
Theo bách khoa thư Baidu, ngày xưa nha sĩ (牙士) là từ chỉ đội cận vệ của tướng lĩnh, bắt nguồn từ Nha kì - đội cận vệ của Tiết độ sứ từ cuối thời nhà Đường đến thời Ngũ Đại.
Ngày nay, nha sĩ là bác sĩ khoa răng hàm mặt, song người Trung Quốc không dùng thuật ngữ này mà sử dụng từ nha y (bác sĩ nha khoa) và nha khoa y sinh (tạm gọi là "bác sĩ khoa răng").
Kế tiếp là nha xỉ (牙齿). Chữ nha (牙) giống nghĩa trên; còn xỉ (齿) là ký tự xuất hiện lần đầu trong Giáp cốt văn, nghĩa gốc là răng người, hoặc chỉ ngà voi, tuổi gia súc, ngựa và tuổi người…
Trong văn học cổ VN, đôi khi ta thấy những từ ghép Hán Việt liên quan đến chữ "xỉ", thí dụ như cứ xỉ (răng sắc như cưa); thiết xỉ (nghiến răng - hình dung từ chỉ sự oán hận) hoặc những thành ngữ như bạch xỉ thanh mi (răng trắng mày xanh, chỉ thời trẻ tuổi); bồng đầu lịch xỉ (đầu bù răng thưa, nói về vẻ ngoài của người già); đầu đồng xỉ hoát (đầu hói răng hở, dáng người già yếu); xỉ đức câu tăng (tuổi tác và đạo đức đều tăng lên, một cách mỹ xưng, khen tuổi và đạo đức đều tăng thêm)…
Ngày nay, nha xỉ có nghĩa là răng hoặc răng người, thường được sử dụng trong văn cảnh trang trọng và trong y học.
Theo quyển Trung Quốc bác vật danh đại từ điển (2000) của Tôn Thư An, nha xỉ tương ứng những biệt ngữ sau: nha (răng thú trong quẻ Đại Súc - Chu Dịch) hay răng của nam giới; hộ môn: cửa ra vào; cốt dư (phần còn lại của xương); ngọc thi (thìa ngọc, muỗng ngọc theo Đạo giáo); bạch thạch (đá trắng, răng của voi); xỉ (cổ ngữ): răng, sách Mặc Tử có câu: "Thần vong tắc xỉ hàn" (Môi không còn thì răng sẽ lạnh)...
Trong tiếng Việt, tuy nha sĩ và nha xỉ đều liên quan đến răng nhưng không đồng nghĩa. Nha sĩ là bác sĩ răng hàm mặt; còn nha xỉ là răng người. Lưu ý: Khuyết nha xỉ (缺牙齿) cũng chẳng dính dáng gì tới răng, bởi đây là món ăn vặt siêu cay, giòn dai, làm từ khoai lang và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Chúng có hình dạng giống những chiếc răng bị khuyết như răng cưa, đang nổi đình nổi đám trên mạng xã hội.
Nguồn: https://thanhnien.vn/nha-si-nha-xi-185260417220959862.htm






Bình luận (0)