Hôm đó, chúng tôi ngồi bên bếp lửa nhà sàn. Những món ăn được bày ra giản dị nhưng đậm tình của chủ nhà dành cho khách, từ thịt xông khói (pa’riêng), thịt ủ chua (za’rúa) đến thịt nướng thơm lừng trên than hồng được trao tay, câu chuyện càng thêm tiếp nối.
Vị hương trên gác bếp
Cuộc hàn huyên tiếp diễn. Mùi khói bếp lan trong không gian nhà sàn, quẩn quanh từng vách gỗ. Già Riah Đơơr ngồi bên bếp lửa, giọng chậm rãi như kéo ký ức từ ngày cũ quay về. Ông nói, giữa nhịp sống đã nhiều đổi thay, nhưng trên gác bếp của đồng bào miền núi, trong đó có người Cơ Tu, những thớ thịt xông khói vẫn luôn hiện hữu. Theo thời gian, thịt chuyển sang màu sẫm, đen bóng, trở thành một phần nếp sống luôn được gìn giữ trong mỗi gia đình.
Giữa cuộc sống núi rừng, gác bếp không đơn thuần là nơi nhóm lửa, mà là không gian lưu giữ văn hóa ẩm thực. Thịt, cá được treo lên, gặp khói bếp hằng ngày, dần se lại. Thời gian trôi qua, từ những miếng thịt tươi chuyển sang màu sẫm, mang mùi khói đặc trưng. “Khói bếp vừa làm khô thịt, tránh hư hỏng, vừa gắn với nếp sống của người vùng cao qua năm tháng sinh tồn”, già Riah Đơơr cho hay.
Trong ký ức của già Đơơr, ngày trước, khi cuộc sống còn nhiều gian khó, người vùng cao dựa vào giàn bếp để tích trữ thức ăn. Thịt treo trên gác, qua thời gian dài trong khói hun, trở thành nguồn dự phòng cho những ngày giáp hạt. Mỗi bữa cơm, từ gác bếp, từng phần thịt được lấy xuống, ngâm nước nóng rồi cạo lớp ám khói để chế biến. Không quá cầu kỳ nhưng rất đậm vị. Thịt xông khói vì thế thường xuất hiện trong những dịp sum vầy, đón khách của cộng đồng.
Già Riah Đơơr nói, thịt xông khói càng để lâu càng ngon. Trước đây, người vùng cao ít tẩm ướp gia vị. Họ chọn những miếng thịt tươi ngon nhất rồi mang đi xông khói để giữ được hương vị lâu dài. Có nhà, thịt được treo trên giàn bếp vài năm vẫn dùng được, không cần cách bảo quản nào khác. Ngoài nướng, món ăn này còn được xào với rau rừng, nêm thêm ít muối ớt, tiêu rừng, lá rang rây mọc tự nhiên trên núi.
“Phải là khách quý, khách từ xa đến thăm, chủ nhà mới đãi thịt xông khói. Có khi là con sóc, con chuột, cũng có khi là thịt heo đen chăn thả tự nhiên. Ngày xưa, thịt xông khói thường chỉ dùng trong các dịp lễ Tết, cưới hỏi hoặc tục tr’záo. Đó là những món quà đặc biệt mà chàng rể dành tặng gia đình nhà vợ”, già Đơơr kể.
Dưới làn khói mỏng, hương thơm của thịt xông khói thêm lan tỏa, quyện vào câu chuyện của già Đơơr, vương trong men nồng rượu tà vạt ngây ngất.
“Di sản sống” của cộng đồng
Mùa nào thức nấy. Người miền núi vốn quen sống cùng rừng, từ rừng mà học cách chế biến món ăn. Mỗi mùa, mỗi loại nguyên liệu lại mở ra một cách làm riêng, vừa để ăn, vừa giữ lại hương vị tự nhiên vốn có.
Dưới vòng tay “mẹ rừng” Trường Sơn, những cư dân như Cơ Tu, Giẻ Triêng, Xê Đăng, Co… có nhiều nét tương đồng trong ẩm thực truyền thống. Nguyên liệu chủ yếu từ rừng, cách chế biến gắn chặt với điều kiện tự nhiên. Lá đắng, củ rừng, các loại gia vị bản địa vẫn hiện diện trong bữa ăn hằng ngày, vừa là món ăn, vừa như cách người miền núi dựa vào rừng để sống khỏe.
Già làng Hồ Văn Dinh, người thôn Tam Lang (xã Trà Đốc) nói, ẩm thực trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng miền núi. Đó là “di sản sống” được hun đúc qua thời gian, từ lao động, sinh hoạt đến tập quán cộng đồng. Trong nếp sống cộng cư giàu tính sẻ chia, ẩm thực trở thành một phần quen thuộc của đời sống bản địa. Sau mỗi cuộc vui chung, tục chia phần vẫn được duy trì. Thịt được chia đều cho từng người trong làng, như một nếp quen đã thành lệ trong đời sống cư dân miền núi.
Vượt khỏi bữa ăn thường ngày, nhiều món ăn của người miền núi trở thành lễ vật trong các dịp cúng tế thần linh. Trong ngày hội “Khai năm tạ ơn rừng” vừa được chính quyền và cộng đồng Cơ Tu xã Hùng Sơn tổ chức, mâm cúng được dọn giữa không gian rừng núi. Những món ăn quen thuộc từ đời sống hằng ngày được dâng lên thần núi, gửi theo ước vọng của cộng đồng về một năm mới yên ấm, đủ đầy...
Nguồn: https://baodanang.vn/nham-nhi-mot-mieng-vi-rung-3333158.html






Bình luận (0)