Xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông như một trong những bài sớm nhất về Quốc hội cũng như về bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.
Tôi tới Quốc hội với một niềm hân hoan, nếu không muốn nói với một lòng kiêu ngạo. Chân tôi bước lên thềm, nhẹ nhàng và vững chắc. Có lẽ các bạn tôi cũng cảm thấy thế như tôi. Đất mọi khi rung dưới chân nay rắn lại, và tất cả nền móng trên đó người ta xây dựng những lâu đài, dinh thự của thủ đô vững như bàn thạch, khó có sức gì lay chuyển. Vũ trụ chào mừng: từ ánh sáng đến luồng gió, đến đàn chim, đến chùm lá đều nhảy nhót ca vui. Vật vô tri ấy nhường cũng hát như trong lòng tôi: Ta đã có một bản Hiến pháp, Hiến pháp của ta mới mẻ, cấp tiến. Ta đã mạnh mẽ vượt lên trước hàng ngũ những giống người lạc hậu, và trong cuộc chạy thi với những dân tộc lớn hơn ta, ta đã có một cái “phông” hùng hậu. Ôi sung sướng, ôi vinh dự! Dân tộc ta đã có một Hiến pháp quy định đời sống của mình.
Trên không trung, mở rộng bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của cõi Đông Á. Tôi bằng lòng biết bao cho dân tộc Việt Nam.
Trước quầy giải khát, các bạn tôi đang nói chuyện ồn ào. Tốp ba người, tốp năm người, tốp ngồi chung quanh bàn, tốp đứng ngoài hiên, với cái thái độ thư thái an nhàn của những người thợ đã hoàn thành một công trình kiến trúc huy hoàng. Ngày hôm nay, tôi mới nhận rõ họ: chẳng có vẻ gì là những ông nghị nghiêm trang, đạo mạo, với những mũ cao cứng nhắc, những cặp giấy đồ sộ, đóng khuôn theo những lề lối của nghị trường. Trái lại, họ tự do trong ngôn ngữ, tự do trong cử chỉ, nhiều khi bất chấp cả những hình thức thường trói buộc con người ở những xã hội cũ kỹ, suy tàn. Họ chỉ là dân chúng quê mùa. Một ông nghị có thể quên quyền lợi của dân chúng, nhưng dân chúng không bao giờ quên quyền lợi của mình. Để làm lại cả một xã hội, đề dựng lên, đột ngột như ngọn núi đứng thẳng một mình, một bản Hiến pháp, họ không thể là những người câu chấp, là những viên thơ lại, là những kẻ nô lệ, là những tâm hồn già cỗi. Họ có thể vụng về, họ có thể nhầm lẫn, nhưng nhất định và trước hết họ phải là những người tự do, để có thể tranh đấu cho tự do của thế hệ họ đang sống, cho tự do của những thế hệ tiếp nối sau trong trường kỳ lịch sử. Cho nên, đối với những câu hỏi băn khoăn: Điều này không giống với Hiến pháp của Nga; khoản nọ không giống với Hiến pháp của Mỹ... họ đã trả lời một điệu:
- Sao lại phải theo Hiến pháp Nga, sao lại phải theo Hiến pháp Mỹ? Ta làm Hiến pháp cho Việt Nam chứ có làm cho Nga cho Mỹ đâu? Hiến pháp của nước Việt Nam như thế đấy.
Tôi yêu sự thách thức này, nó ngụ ý một ý chí quật cường, một lòng tự tin vô biên. Hiến pháp của nước Việt Nam như thế đấy! Sự thách thức chả có gì là ngoa ngoắt, vì Hiến pháp Việt Nam là kết tinh cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam, là phản ảnh tinh thần tự do, dân chủ Việt Nam; là bản ngôn (?) rực rỡ, nêu cao ý chí độc lập và thống nhất của giống Việt Nam. Cả dân tộc Việt Nam là ở đấy. Ở đấy, một dân tộc đã khẳng định trước thế giới sức sống và ý chí muốn sống của mình.
Tôi hình dung mãi buổi chiều hôm đó, khi họ giơ tay chơm chởm dưới vòm trần rực rỡ của Nhà hát Lớn, khi họ say sưa đứng lên hát bài Quốc ca thúc giục. Và họ, và dân chúng, đứng trên mấy từng gác, đầu nọ tiếp với chân kia, tiếp nối nhau, rủ từ trên vòm lộng lẫy xuống, như những cây thạch nhũ lóng la lóng lánh. Tôi tưởng như những cây thạch nhũ ấy cao vút tới mây xanh.
Ôi cử chỉ đẹp đẽ! Sự hồn nhiên kia ngụ một lòng tin sâu sắc. Họ tin rằng Hiến pháp mà họ thảo ra sẽ đưa dân tộc đến một tương lai rực rỡ, và nhất là họ tin rằng họ không phản bội dân chúng.
Một dân tộc đã vững vàng đứng dậy. Và tiếng ca hào hùng kia loan báo cho toàn dân, cho toàn thế giới tin mừng bản Hiến pháp Việt Nam long trọng ra đời, giữa cảnh hỗn mang của thế giới. Trong khắp cõi Việt Nam vọng lại những lời ca hoan hỉ.
Tính đến nay, Việt Nam đã ban hành 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013). Tuy nhiên, bản hiến pháp đầu tiên năm 1946 vẫn được đánh giá cao, được xem là “…một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông… Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do… phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông… Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết công bình của các giai cấp”.
(Tư liệu nguồn: Sưu tập trọn bộ Tiên phong 1945 - 1946, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1996)
Nguồn: https://daibieunhandan.vn/quoc-hoi-10402427.html







Bình luận (0)