Với sở trường bám sát và phản ánh kịp thời cuộc sống, ca khúc đã tạo nên cho mình một quy luật tất yếu là phải liên tục đổi mới. Bởi vậy sự đổi mới trong ca khúc là bột phát ngay từ sau khi giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước. Rất tiếc lúc đó ta thiếu nhạy bén nên để bột phát quá lâu. Bên cạnh cái được mà chúng tôi sẽ đề cập dưới đây, chúng ta đã để mất những cái rất không đáng mất. Uy tín của nền ca khúc kháng chiến bị lu mờ, các thể loại âm nhạc bác học, thậm chí cả những cơ cấu tổ chức bộ mặt quốc gia như Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, Dàn nhạc Giao Hưởng Việt Nam cũng bị lung lay tận gốc. Rất may là mọi sự đã qua, cho tới hôm nay hòa nhịp cùng sự phát triển về kinh tế và ổn định về chính trị xã hội, rõ ràng âm nhạc của chúng ta đang đà khởi sắc ở mọi thể loại, đặc biệt thể loại ca khúc, mặc dù đâu đó còn những bất cập.
Vào thời điểm sau 1975, nghĩa là cách đây hơn 50 năm, có một nhạc sĩ trẻ lúc đó-nhạc sĩ Trần Tiến-là một trong những người mở đầu viết về đề tài đất nước-Đảng và Bác Hồ với ngôn ngữ đổi mới-ngôn ngữ nhạc nhẹ: Bài “Giai điệu Tổ quốc”, tiết tấu slowrock; bài “Nếu bạn muốn tìm đến Lênin-Hồ Chí Minh”, tiết tấu Soul. Cả hai bài đã được công chúng trẻ nhiệt liệt hoan nghênh. Có thể nói đây là bước ngoặt lớn từ những thành công vang dội trong các cuộc “Hát cho đồng bào tôi nghe” với những tác phẩm của Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn… viết trước năm 1975, từ nay nhạc nhẹ có mặt ở cả hai miền và trở thành tiếng nói chung của đại bộ phận công chúng trong cả nước.
Nối tiếp dòng đề tài này còn có “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), “Đất nước, lời ru”(Văn Thành Nho), “Cung đàn mùa xuân” (Cao Việt Bách-Lưu Trọng Lư), “Quê hương” (Giáp văn Thạch-Đỗ Trung Quân); “Chiều nay biển hát” (Hồng Đăng), “Đất nước bên bờ sóng” (Thái văn Hóa); “Đất nước” (Phạm Minh Tuấn-Tạ Hữu Yên)… Viết về Bác Hồ có nhiều tác giả đã thành công, nhưng thành công nhất có lẽ là Thuận Yến, người đã kịp chuyển hóa bút pháp để từ tác giả của “Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc”, “Mỗi bước ta đi” trở thành tác giả của “Bác Hồ một niềm tin bao la”, “Người về thăm quê”, “Miền Trung nhớ Bác” và “Vầng trăng Ba Đình” (thơ Phạm Ngọc Cảnh).
![]() |
| Ảnh minh họa: vov.vn |
Viết về các vùng miền cũng là một mảng trong đề tài truyền thống. Ở mảng này chúng ta có “Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh” (Xuân Hồng), “Dáng đứng Bến Tre” (Nguyễn Văn Tý), “Nha Trang mùa thu lại về” (Văn Ký), “Tình đất đỏ miền Đông” (Trần Long Ẩn), “Làng quan họ quê tôi” (Nguyễn Trọng Tạo-thơ Nguyễn Phan Hách), “Tình ca Tây Nguyên” (Hoàng Vân), “Sa Pa thành phố trong sương” (Vĩnh Cát),“Huế, tình yêu của tôi” (Trương Tuyết Mai-thơ Thanh Bình), “Ơi Madrack” (Nguyễn Cường)…
Có một mảnh đất thiêng mà hình như không nhạc sĩ nào là không muốn viết để bày tỏ tình cảm của mình: Đó là Hà Nội-trái tim của cả nước. Không riêng trong nước, mà có lẽ trên thế giới cũng hiếm có một thành phố nào có nhiều bài hát về mình đến thế! Để có thể đọng lại được bên cạnh những tác phẩm đã đứng sừng sững từ lâu như: “Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi), “Tiến về Hà Nội” (Văn Cao), các tác giả đã phải tìm những từ mới với cách biểu hiện mới rất riêng của mình. Chính vì vậy đã tạo sự phong phú đa dạng đến kỳ lạ, mặc dù cùng hướng về một đối tượng miêu tả: Thủ đô Hà Nội! Nguyễn Đức Toàn có “Hà Nội-Trái tim hồng”, Nguyễn Thành có “Cảm xúc tháng 10” (thơ Tạ Hữu Yên), Trịnh Công Sơn có “Nhớ mùa thu Hà Nội”, Phú Quang có “Em ơi, Hà Nội phố” (thơ Phan Vũ), Trần Hoàn có “Khúc hát người Hà Nội”, Hoàng Hiệp có “Nhớ về Hà Nội”, Trương Quý Hải có “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” (thơ Bùi Thanh Tuấn), Trọng Đài có “Hà Nội đêm trở gió” (lời Chu Lai, Trọng Đài), Nguyễn Cường có “Mãi tuổi thơ tôi Hà Nội”, Vũ Thanh có “Hà Nội mùa thu”, Lê Việt Hòa có “Mùa xuân trên sông Tô”… Không thể không nhắc đến một bài được viết từ năm 1972 nhưng đã hội tụ đủ những yếu tố đổi mới trong cách biểu hiện, bài “Hà Nội-Niềm tin và hy vọng”của Phan Nhân.
Cuộc sống trong hòa bình xây dựng đã mở rộng hơn lối cảm nghĩ khi viết về quê hương đất nước. Có thể chỉ ca ngợi cảnh đẹp, hoặc kể lại truyền thuyết dân gian của một vùng nào đó. Cách viết này đã được thể hiện qua ngòi bút nhạy cảm của Phó Đức Phương với một loạt bài: “Hồ trên núi”, “Huyền thoại Hồ Núi Cốc”, “Một thoáng Hồ Tây”, “Trên đỉnh Phù Vân”.
Chúng ta không thể quên những ngày đầu của hòa bình thống nhất đất nước. Chúng ta càng không quên 10 năm cuộc chiến tranh biên giới kéo dài ngay sau đó. Ca khúc một lần nữa lại lên đường ra phía trước với ý chí quyết thắng và với cách thể hiện mới: “Lời tạm biệt lúc lên đường” (Vũ Trọng Hối); “Bài ca biên giới” (Xuân Giao); “Chiều dài biên giới” (Trần Chung); “Hoa hồng trên điểm tựa” (Hồ Bắc), “Hát về anh” (Thế Hiển), “Hoa sim biên giới” (Minh Quang), “Tình ca tuổi trẻ” (Tôn Thất Lập)…
Ca khúc của chúng ta rất thủy chung với người lính, kể cả những lúc im tiếng súng: “Hát mãi khúc quân hành” (Diệp Minh Tuyền); “Nhịp cầu nối những bờ vui” (Văn An-thơ Phan Văn Từ), “Nơi đảo xa” (Thế Song), “Chút thơ tình người lính biển” (Hoàng Hiệp- thơ Trần Đăng Khoa), “Khi xe tăng qua miền quan họ” (An Thuyên- thơ Nguyễn Ngọc Phú), “Mùa xuân bên cửa sổ” (Xuân Hồng- thơ Song Hảo). Đặc biệt khi nhắc đến thương binh-liệt sĩ và hình ảnh các bà mẹ, những xúc cảm lại tràn lên mãnh liệt: “Vết chân tròn trên cát” (Trần Tiến), “Bài ca không quên” (Phạm Minh Tuấn), “Màu hoa đỏ” (Thuận Yến- thơ Nguyễn Đức Mậu), “Cỏ non thành cổ” (Tân Huyền), “Huyền thoại mẹ” (Trịnh Công Sơn) “Mẹ Việt Nam anh hùng” (An Thuyên)…
Đã có một nhận xét, rằng có thể làm cuốn biên niên sử hai cuộc kháng chiến bằng những bài hát về các trận đánh, về các chiến công. Rất tiếc khi sang thời bình thì đây lại là điểm yếu. Chúng ta mới có ít bài ca ngợi những thành công trong xây dựng kể từ khi đất nước thống nhất. “Trị An âm vang mùa xuân” (Tôn Thất Lập), “Nắng ấm quê hương” (Vĩnh An), “Hà Nội những công trình” (Quốc Trường), “Mùa xuân trên những giếng dầu” (Phạm Minh Tuấn)…
Bên cạnh các thiếu hụt này, ca khúc nhạc nhẹ đã bù đắp lại một mảng đề tài quý hiếm nói về sinh hoạt gia đình. Tác giả tiêu biểu là cặp vợ chồng nghệ sĩ Ngọc Lễ-Phương Thảo với ca khúc “Xe đạp ơi” và “Ba ngọn nến”… gợi lên hình ảnh thiêng liêng mà ấm áp. Nhưng đóng góp mới mẻ và đồ sộ hơn cả là những tình khúc nổi tiếng như: “Thuyền và biển” (Phan Huỳnh Điểu- thơ Xuân Quỳnh), “Cho em một ngày” (Dương Thụ), “Hương thầm” (Vũ Hoàng- thơ Phan Thị Thanh Nhàn), “Mùa chim én bay” (Hoàng Hiệp- thơ Diệp Minh Tuyền), “Đợi” (Huy Thục- thơ Vũ Quần Phương), “Ca dao em và tôi” (An Thuyên), “Chia tay hoàng hôn” (Thuận Yến- thơ Hoài Vũ), “Thì thầm mùa xuân” (Ngọc Châu), “Thời hoa đỏ” (Nguyễn Đình Bảng- thơ Thanh Tùng)… Có ba tác giả nổi bật với ba cá tính, ba màu sắc, ba nhiệt độ khác nhau khi nói về tình yêu, đó là Trịnh Công Sơn, Thanh Tùng và Trần Tiến. Tình khúc Trịnh Công Sơn đem lại cảm giác mát dịu, tình khúc Thanh Tùng đem lại sự ấm áp, còn tình khúc Trần Tiến mang lại hơi nóng của lửa. Cả ba đều rất thành công. Có thể đi sâu phân tích hiện tượng này như một chuyên đề, xin để dành cho một dịp khác.
Thật là thiếu sót nếu ta không nhắc tới một bộ tác giả nữa rất được giới trẻ học đường mến mộ, đó là Nguyễn Ngọc Thiện với “Ơi cuộc sống mến thương”, Từ Huy với “Một thoáng quê hương” (viết chung với Thanh Tùng) và Nguyễn Văn Hiên với “Hổng dám đâu”.
Còn một mảng đề tài nữa cũng rất đồ sộ dành cho tuổi mẫu giáo và thiếu nhi-những công dân tương lai của đất nước. Ca khúc ở mảng đề tài có không ít những thành công và cũng không ít những vấn đề phải bàn để đổi mới đem lại hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên chúng tôi cũng phải coi là một chuyên đề riêng, không thể đề cập vào dịp này.
Nhìn chung có thể khẳng định tính liên tục phát triển của ca khúc Việt Nam với sự phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức. Sự đổi mới về chất chuyển từ ca khúc thời chiến sang ca khúc thời bình với hình thức ta thường gọi là nhạc nhẹ, chính là ở chỗ chúng ta đã “cá thể hóa” những nội dung xã hội đem lại lối diễn đạt mềm mại trẻ trung với những sắc thái tình cảm riêng tư, tế nhị, dễ đi vào lòng người trong cuộc sống lao động thanh bình. Chúng tôi cũng xin lưu ý: Bên cạnh dòng chính thống của từng thời kỳ vẫn luôn luôn tồn tại song song những dòng truyền thống khác, tuy nhiên giữ vai trò chủ đạo và có ảnh hưởng lớn trong nền ca khúc Việt Nam mấy chục năm qua chính là dòng nhạc nhẹ Việt Nam.
Tóm lại, sự đổi mới trong ca khúc của chúng ta đã đem lại sự hiện diện một thể loại mới: Nhạc nhẹ Việt Nam. Tuy mới mẻ nhưng đã có những thành tựu không thua kém bất cứ thể loại nào trước đó. Uy tín của nó không dừng ở phạm vi trong nước mà lan tỏa tới nhiều cộng đồng người Việt sống ngoài nước. Đó là một điều rất đáng mừng. Vấn đề cần làm ngay trước mắt là tổ chức và khích lệ việc thâm nhập lâu dài vào cuộc sống của những người lao động, của những người lính, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, những vùng trọng điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và an ninh quốc phòng. Chỉ có như vậy mới có thể có những sáng tác hay, mà khi tập hợp lại ta sẽ có một cuốn biên niên sử mới của thời kỳ đổi mới.
Vấn đề thứ hai là phải củng cố và xây dựng đội ngũ lý luận phê bình đủ mạnh để góp phần nâng cao không ngừng chất lượng tác phẩm, đồng thời kịp giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển và kịp ngăn chặn những trào lưu xấu, độc hại, biểu hiện cả trong sáng tác lẫn biểu diễn. Theo tôi đây cũng là một chuyên đề, mà là chuyên đề lớn, đi vào điểm yếu của Hội Nhạc sĩ Việt Nam chúng ta trong suốt nhiều nhiệm kỳ qua. Chỉ nói riêng lĩnh vực ca khúc, chúng ta đang thiếu sự đúc kết mang tính học thuật. Điều này rất cần để đảm bào cho sự phát triển đa dạng và ổn định. Đồng thời cũng rất thiếu sự nắm bắt nhanh nhạy để vừa kịp phát hiện những lệch lạc, vừa thường xuyên khơi dậy ý thức công dân trong sáng tạo tránh được những sa đọa trong tâm hồn, trong mỹ cảm mà những bài não tình kích dục chỉ là những biểu hiện bên ngoài. Hơn nữa, trên thực tế chưa bao giờ chấm dứt sự tồn tại lén lút những khuynh hướng kích động đánh vào an ninh chính trị và xã hội của chúng ta, do vậy đề cao ý thức công dân luôn luôn là một yêu cầu thường trực.
Nguồn: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/su-doi-moi-trong-ca-khuc-nhung-thanh-tuu-va-ton-tai-1041829









Bình luận (0)