Hoàn tất vòng tròn đất trời
Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, tháng Chạp được ghi nhận là thời gian “tảo mộ, tu chỉnh gia đường, soạn lễ phẩm”. Ở đó, việc quét dọn nhà cửa không đơn thuần là vệ sinh, mà là một hành vi thanh tẩy.
Người dân gột rửa cái cũ, cái chưa trọn vẹn của năm cũ để đón sinh khí mới. Nhiều gia phả, hương ước làng xã lưu lại quy định: từ trung tuần tháng Chạp, các công việc tranh chấp, kiện tụng hạn chế tiến hành; làng xóm ưu tiên cho việc hòa giải, “để người người bước sang năm mới trong yên thuận”.
Tư duy ấy phản ánh rõ trong chữ “tuế” (歲) - năm - luôn gắn với ý niệm hoàn thành một vòng tròn, và tháng Chạp là khoảnh khắc đóng vòng ấy lại. Vì vậy, các nghi lễ như cúng Táo quân (23 tháng Chạp) được xem là cột mốc quan trọng, đánh dấu việc gia đình chính thức bước vào thời kỳ chuẩn bị Tết.
Trong các văn bản như Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, tháng Chạp hiện lên với không khí bận rộn nhưng trật tự: làm bánh, muối dưa, mổ lợn, phơi bánh tráng, nhuộm lại áo quần. Những công việc ấy theo lịch trình quen thuộc, lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ, đến mức trở thành một “trí nhớ tập thể” của cộng đồng.
Đáng chú ý, nhiều văn bản nhắc đến việc chuẩn bị lễ vật không chỉ cho gia đình, mà cho đình làng. Lễ tất niên làng thường diễn ra vào cuối tháng Chạp, với quy mô lớn, có tế lễ, có yến phẩm, có phân chia phần lộc. Tết vì thế không phải là câu chuyện riêng của từng nhà, mà là sự hoàn tất của cả cộng đồng cư dân.
Cánh cửa gạn lọc
Từ thế kỷ 17-18, nhiều thương nhân, giáo sĩ, học giả phương Tây đã để lại những ghi chép đáng giá về đời sống Việt Nam. Trong Relation of the Kingdom of Tonkin (Vương quốc Đàng Ngoài), Alexandre de Rhodes mô tả rằng từ “hơn một tháng trước năm mới, chợ búa đã trở nên khác lạ, hàng hóa dành cho ngày lễ tràn ngập”.
Ông ngạc nhiên trước việc người Việt chuẩn bị Tết với một sự kiên nhẫn và tính nghi thức cao độ, trái ngược với thói quen châu Âu lúc bấy giờ khi lễ hội thường chỉ được chuẩn bị trong vài ngày. Jean Baptiste Tavernier, khi đi qua vùng Đàng Trong, cũng ghi nhận: “Cuối năm, mọi công việc gần như dừng lại, người dân dồn tâm trí cho gia đình, mồ mả tổ tiên và những nghi lễ liên quan đến năm mới”.
Nhận xét ấy cho thấy tháng Chạp là một “vùng đệm thời gian” mà dòng kinh tế, hành chính, xã hội cùng chậm lại để nhường chỗ cho đời sống tinh thần. Một chi tiết thú vị trong các ghi chép nước ngoài là hình ảnh chợ Tết hiện diện từ rất sớm.
Các thương nhân, nhà hàng hải Bồ Đào Nha và Hà Lan đã mô tả những phiên chợ Việt dịp cuối năm và Tết rất sinh động, nhấn mạnh sự đông đúc, tấp nập, không khí huyên náo với đủ loại hàng hóa. Các văn bản còn thể hiện rằng đây là nơi hội tụ nét văn hóa và không gian của đời sống tinh thần người Việt.
Chợ tháng Chạp trong mắt người ngoại quốc là không gian mang tính biểu tượng, nơi cái cũ được bán đi, cái mới được mua về, chuẩn bị cho sự khởi đầu. Trong nhiều thư tịch Hán - Nôm, tháng Chạp còn là mùa “tính sổ” - tổng kết ruộng đất, thuế khóa, công nợ.
Nhưng song song với đó là các hoạt động phóng sinh, bố thí, làm việc thiện, như một cách “trả nợ” đạo đức trước khi sang năm mới. Tư duy này khiến Tết vượt lên trên ý niệm của một lễ hội.
Điểm gặp gỡ giữa thư tịch Hán - Nôm và ghi chép của người ngoại quốc về Tết Việt chính là sự chuẩn bị cho kỳ hội này không chỉ nằm ở vật chất. Tháng Chạp là thời gian của sự chậm rãi có chủ ý, của việc sắp xếp lại đời sống từ gia đình đến làng xã, từ con người đến mối quan hệ với tổ tiên và thần linh.
Đọc lại những trang viết xưa, có thể thấy Tết chỉ thực sự đến khi con người khép lại năm cũ. Và tháng Chạp, trong ký ức văn hóa Việt, chính là cánh cửa để gạn lọc, thanh tẩy cho con người bước sang một vòng mới của đời sống.
Thủy tổ của báo Tết
Trong cuốn “Thú chơi sách”, học giả Vương Hồng Sển nhận định, thủy tổ Nam Phong “số Tết 1918” là tờ báo Xuân, báo Tết đầu tiên của Việt Nam. Nam Phong tạp chí (Ngọn gió Nam) là dạng nguyệt san do L. Marty, một người Pháp rất thông thạo tiếng Việt sáng lập, chủ bút là học giả Phạm Quỳnh. Chỉ mấy tháng sau khi ra mắt, Nam Phong đã ra mắt “số Tết 1918” với lối trình bày khác biệt, không đánh số thứ tự theo thường lệ, bìa màu vàng cam nhạt, in hình hai ông già, một sáng và một mờ, tay cầm cành đào tượng trưng cho hai vị Hành khiển phán quan Mậu Ngọ (cầm nhánh đào tươi) và Đinh Tỵ (cầm nhánh đào không có bông) bàn giao ấn tín cho nhau. Đặc điểm Nam Phong “số Tết 1918” là tất cả bài viết đều nằm trong khung hoa, có nhiều tranh minh họa và không có quảng cáo. Trong lời Phi lộ, chủ bút Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm số Tết: Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy...”.
X.H
Nguồn: https://baodanang.vn/thang-chap-trong-thu-tich-3322847.html






Bình luận (0)