Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Báo Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với ông Lê Văn Tiến, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa về những kết quả đạt được từ việc thực hiện Nghị định số 136/2025/NĐ-CP của Chính phủ, quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Chuyển biến trong tư duy quản trị công
Ông đánh giá thế nào về vai trò và ý nghĩa của Nghị định 136/2025/NĐ-CP quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có hiệu lực từ 01/07/2025, đặc biệt khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đơn vị đi đầu và thực hiện sớm nhất?
Nghị định số 136/2025/NĐ-CP của Chính phủ là dấu mốc quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng cho chính quyền cấp tỉnh không chỉ rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm thiểu thủ tục hành chính, mà còn giúp địa phương chủ động hơn trong ra quyết định, bám sát thực tiễn và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc ngay từ cơ sở.
Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường là bộ đầu tiên chủ động tham mưu cho Chính phủ ban hành nghị định phân cấp riêng cho lĩnh vực mình quản lý cho thấy tư duy rất đổi mới và quyết liệt trong cải cách, không chờ đợi, không chung chung, mà rất rõ ràng, cụ thể. Nhờ đó, các địa phương, trong đó có Thanh Hóa, có cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất để tổ chức thực hiện nhanh chóng, hiệu quả ngay từ ngày đầu Nghị định số 136 có hiệu lực.
Ông Lê Văn Tiến, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa. Ảnh: Quốc Toản.
Thanh Hóa với đặc thù là tỉnh có địa bàn rộng, sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, yêu cầu quản lý môi trường cao, việc triển khai Nghị định số 136 sớm và nghiêm túc đã giúp Sở Nông nghiệp và Môi trường phân định rõ trách nhiệm, nâng cao tính chủ động, cụ thể hóa trách nhiệm người đứng đầu. Qua đó, công tác phối hợp liên ngành, liên cấp cũng trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn.
Tôi cho rằng, Nghị định này không chỉ là một văn bản quy phạm pháp luật, mà là bước chuyển tư duy trong quản trị công, lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, trao quyền đi đôi với giám sát và trách nhiệm giải trình. Đây là nền tảng để xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Một góc đô thị Thanh Hóa nhìn từ trên cao. Ảnh: Quốc Toản.
Sau khi Nghị định có hiệu lực, ngành Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã thực hiện hiệu quả những nội dung phân cấp nào nổi bật? Ông có thể lấy ví dụ cụ thể?
Sau khi Nghị định số 136/2025/NĐ-CP có hiệu lực, Thanh Hóa đã triển khai nghiêm túc các nội dung được phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đặc biệt là nhóm thủ tục liên quan đến thẩm định, phê duyệt và cấp phép.
Theo đó, các thủ tục như: Cấp phép cho các hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước, cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu thông thường, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)… trước đây phải trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nay đã được Sở chủ động thẩm định và tham mưu. Nhờ vậy, thời gian xử lý được rút ngắn đáng kể, đồng thời trách nhiệm giám sát, quản lý của địa phương cũng được nâng cao. Điển hình như:
Đối với lĩnh vực môi trường: Các dự án nhóm A (50-100 ha, có yêu cầu chuyển mục đích từ ≥5 ha đất 2 vụ lúa trở lên) trước đây thuộc Bộ, nay phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt, giảm thời gian xử lý từ tối đa 45 ngày xuống 30 ngày.
Đối với lĩnh vực khoáng sản: Cấp phép khai thác khoáng sản làm xi măng được giao cho UBND tỉnh; Sở chủ động thẩm định, tham mưu thay vì trình Bộ.
Ngành Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đạt được nhiều thành tựu trong thời gian qua. Ảnh: Quốc Toản.
Đối với cấp phép cho hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi: Hồ chứa Cửa Đạt do Bộ quản lý, nhưng nay các hoạt động xây dựng, khoan đào, khai thác, nổ mìn… trong phạm vi bảo vệ đã phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh cấp phép, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân.
Khoáng sản, môi trường là những lĩnh vực vừa phức tạp, vừa nhạy cảm, thường xuyên phát sinh kiến nghị, khiếu nại từ người dân và doanh nghiệp. Trước đây, nhiều nội dung thuộc thẩm quyền bộ, ngành nên quá trình xử lý còn kéo dài, chưa sát thực tiễn. Việc phân cấp theo Nghị định số 136/2025 giúp địa phương có đủ thẩm quyền để trực tiếp xem xét, quyết định. Nhờ đó, các vướng mắc được tháo gỡ kịp thời, linh hoạt hơn.
Phân cấp rõ, trách nhiệm càng phải cao
Sau khi phân cấp, nhiều thẩm quyền được đẩy về cấp tỉnh, nghĩa là khối lượng công việc và trách nhiệm tăng lên. Vậy hiện nay, Sở đang tổ chức vận hành bộ máy như thế nào để đảm bảo thông suốt, không quá tải, không bỏ sót trách nhiệm và chống được tiêu cực, nhất là trong lĩnh vực khoáng sản, môi trường, thưa ông?
Sở đã kịp thời trình UBND tỉnh sắp xếp bộ máy của Sở và các đơn vị trực thuộc tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Sở đã rà soát lại nhiệm vụ cho từng phòng, đơn vị trực thuộc; giao rõ người, rõ việc (đến từng chuyên viên), không để chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ. Bố trí, sắp xếp cán bộ theo vị trí việc làm; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ.
Sở đã tổ chức kết nối 4 hội nghị trực tuyến từ Trung ương đến địa phương để triển khai nội dung phân
Năm 2025, sản xuất nông nghiệp tiếp tục ổn định với sản lượng lương thực đạt 1,5 triệu tấn; diện tích tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đạt 4.474 ha, vượt kế hoạch. Chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung, an toàn sinh học với 1.092 trang trại, sản lượng thịt hơi đạt 332,3 nghìn tấn, tăng 4,8%; trồng mới 12,5 nghìn ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 54%; tổng sản lượng thủy sản đạt 222,3 nghìn tấn, vượt 2,9% kế hoạch.
cấp, phân quyền và giải đáp các khó khăn, vướng mắc. Trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành 15 quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính. Đồng thời, công khai thông tin về bộ phận thường trực và đường dây nóng để hỗ trợ, hướng dẫn các nhiệm vụ được phân cấp.
Bên cạnh đó, chúng tôi đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để xử lý công việc nhanh hơn, minh bạch hơn. Việc phối hợp giữa các phòng chuyên môn, giữa Sở với các địa phương, đơn vị liên quan cũng được tăng cường, nhằm đảm bảo công việc thông suốt, hiệu quả, không bị ách tắc.
Chúng tôi luôn đặt việc công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận thông tin, thực hiện các quyền, nghĩa vụ là nguyên tắc hàng đầu. Các quy trình, thủ tục được kiểm soát chặt chẽ, thực hiện đúng quy định pháp luật. Mỗi nhiệm vụ đều được giải quyết theo quy trình từ chuyên viên, lãnh đạo phòng đến lãnh đạo Sở, có sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan và người chịu trách nhiệm rõ ràng. Điều này giúp đảm bảo đúng pháp luật, khách quan và hạn chế tối đa nguy cơ lạm quyền, lợi ích cục bộ.
Về lâu dài, cần tiếp tục hoàn thiện các công cụ kiểm soát quyền lực, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ thực thi. Đây là yếu tố then chốt để phân quyền thực sự phát huy hiệu quả, không trở thành rủi ro.
Trong thực tiễn sẽ không tránh khỏi việc cán bộ “sợ trách nhiệm, sợ sai” trong thực thi công vụ và gây ảnh hưởng đến việc thực hiện thực chất phân quyền. Với tư cách người đứng đầu ngành Nông nghiệp và Môi trường địa phương, ông có giải pháp gì để thay đổi tâm lý, tác phong, trách nhiệm của cán bộ và đề xuất, kiến nghị gì để cải thiện hơn việc thực hiện phân cấp, phân quyền trong thời gian tới, thưa ông?
Thực tế cho thấy vẫn còn một bộ phận cán bộ cấp dưới có tâm lý “sợ trách nhiệm, sợ sai” khi thực thi công vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như môi trường, khoáng sản… Điều này có thể dẫn đến sự chậm trễ trong xử lý công việc, làm giảm hiệu quả của chính sách phân quyền. Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp, như:
Thứ nhất, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn và phổ biến quy định pháp luật cho cán bộ, công chức; giúp cán bộ, công chức nắm chắc quy trình, tự tin hơn khi xử lý hồ sơ, nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, xây dựng quy trình xử lý công việc rõ ràng, minh bạch, mỗi nhiệm vụ đều có người chịu trách nhiệm cụ thể và được tham mưu qua nhiều bước, từ chuyên viên, lãnh đạo phòng đến lãnh đạo Sở, nhằm đảm bảo đúng pháp luật, khách quan và đồng thuận tập thể.
Thứ ba, tạo môi trường làm việc khuyến khích tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật.
Muốn thực hiện hiệu quả phân quyền, trước hết phải thay đổi tư duy, tác phong và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực thi (sang phục vụ người dân và doanh nghiệp). Đây là điều kiện tiên quyết để nghị quyết đi vào thực chất, không dừng lại ở văn bản.
Ông Lê Văn Tiến cho rằng, muốn thực hiện hiệu quả phân quyền, trước hết phải thay đổi tư duy, tác phong và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực thi. Ảnh: Quốc Toản.
Tuy nhiên, cũng còn thực tế một bộ phận cán bộ vẫn còn tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm; đội ngũ cán bộ, công chức chưa có nhiều kinh nghiệm khi xử lý các hồ sơ, thủ tục liên quan đến lĩnh vực pháp lý phức tạp, dễ phát sinh rủi ro. Điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả và tiến độ thực hiện phân cấp, phân quyền. Một số quy định pháp luật vẫn còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, trong khi việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể sau khi phân cấp chưa kịp thời, khiến địa phương đôi lúc còn lúng túng khi áp dụng.
Từ thực tiễn đó, chúng tôi kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật đi kèm, đặc biệt là các quy định mang tính chuyên môn sâu, để địa phương có cơ sở pháp lý rõ ràng trong quá trình thực hiện.
Tăng cường tổ chức tập huấn, đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, nhất là các lĩnh vực mới được giao thẩm quyền, để đảm bảo năng lực thực thi nhiệm vụ.
Có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, kết nối chuyên gia từ các bộ, ngành Trung ương, nhất là trong giai đoạn đầu tiếp nhận thẩm quyền, để địa phương có thể tham vấn, xin ý kiến kịp thời khi gặp vướng mắc.
Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
Năm 2025, toàn tỉnh tiếp nhận và giải quyết trên 316 nghìn hồ sơ đất đai, tăng khoảng 70% so với năm 2024; tỷ lệ hồ sơ giải quyết quá hạn chỉ 0,44%. Công tác giải phóng mặt bằng được tập trung chỉ đạo, đã thực hiện 1.505 ha, tạo quỹ đất phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Công tác bảo vệ môi trường tiếp tục được tăng cường; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 93,7%; nhiều dự án xử lý rác thải trọng điểm được tháo gỡ, đưa vào vận hành.
Sau khi sắp xếp các xã và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, toàn tỉnh có 102 xã và 893 thôn/bản đạt chuẩn NTM, 01 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 556 thôn/bản đạt chuẩn NTM kiểu mẫu và 702 sản phẩm OCOP được công nhận.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/thanh-hoa-di-nhanh-lam-that-d795248.html






Bình luận (0)