Trong bối cảnh ASEAN đứng trước nhiều thách thức địa - chiến lược và nguy cơ phân hóa nội khối, việc phát huy “sức mạnh mềm” văn hóa không chỉ góp phần làm sâu sắc quan hệ Việt Nam - Thái Lan, mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN gắn kết, tự cường và “thống nhất trong đa dạng”.
Trong quan hệ quốc tế hiện đại, bên cạnh “sức mạnh cứng”, sức hấp dẫn của hệ giá trị, bản sắc văn hóa, uy tín chính trị, hình ảnh quốc gia và khả năng thuyết phục bằng niềm tin ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng định hình vị thế quốc gia. Đó cũng chính là chiều sâu của sức mạnh mềm văn hóa - một sức mạnh không áp đặt, không cưỡng bức nhưng có khả năng lan tỏa bền bỉ, có thể tạo đồng thuận xã hội và giúp mở rộng không gian hợp tác lâu dài.
Đối với Việt Nam, Đảng ta nhất quán khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, văn hóa không tách rời chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, mà trở thành một cấu phần của sức mạnh tổng hợp quốc gia; góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân nghĩa, thủy chung, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Với Thái Lan, văn hóa cũng là trụ cột quan trọng của bản sắc quốc gia. Hệ giá trị “Quốc gia - Tôn giáo - Nhà vua”, ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo Theravada, triết lý phát triển hài hòa và nghệ thuật ứng xử mềm dẻo đã tạo nên sức hấp dẫn đặc thù của đất nước Chùa Vàng. Trong nhiều thập niên, chính chiều sâu văn hóa ấy đã giúp Thái Lan duy trì năng lực thích ứng, cân bằng quan hệ và phát huy vai trò tích cực trong khu vực Đông Nam Á.
Năm 2026, hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Dấu mốc này xác lập tầm nhìn mới: chuyển hóa những tương đồng văn hóa, giao lưu nhân dân thành động lực phát triển, nền tảng vững chắc cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Từ sự tương đồng văn hóa
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan không chỉ là quan hệ giữa hai nền kinh tế năng động, hai thành viên có trách nhiệm của ASEAN, mà còn là “sự gặp gỡ” giữa hai nền văn hóa giàu bản sắc, hai tư duy đối ngoại coi trọng độc lập, tự chủ, hòa hiếu và hợp tác cùng phát triển. Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976, nâng cấp lên Đối tác chiến lược năm 2013, Đối tác chiến lược tăng cường năm 2015 và Đối tác Chiến lược toàn diện năm 2025, nền tảng văn hóa - xã hội luôn là mạch ngầm bền bỉ nuôi dưỡng độ tin cậy, chiều sâu và triển vọng của quan hệ song phương.
Văn hóa Thái Lan được kiến tạo từ sự kết hợp giữa truyền thống quân chủ, Phật giáo Nam truyền và tinh thần cộng đồng Đông Nam Á. Hệ giá trị “Quốc gia - Tôn giáo - Nhà vua” không chỉ là một biểu tượng chính trị - xã hội, mà còn là trục quy chiếu tinh thần định hình ý thức cộng đồng, chuẩn mực đạo đức và phương thức tổ chức đời sống xã hội. Ở đó, quốc gia là không gian chung của lòng trung thành và trách nhiệm công dân; tôn giáo là nền tảng đạo đức, hướng con người tới sự tiết chế, từ bi và hài hòa; nhà vua là biểu tượng của sự thống nhất, ổn định và dòng chảy liên tục của lịch sử.
Ảnh hưởng của Phật giáo Theravada thấm sâu vào đời sống xã hội Thái Lan, từ lễ nghi, giáo dục, văn hóa ứng xử đến quan niệm về phát triển. Tinh thần từ bi, khoan dung, tránh cực đoan, coi trọng sự cân bằng và tránh đối đầu trực diện góp phần tạo nên phong cách mềm mại, hòa hiếu, giàu khả năng điều chỉnh. Đó cũng là một trong những cơ sở văn hóa giúp Thái Lan hình thành nghệ thuật đối ngoại linh hoạt: biết giữ cân bằng, biết điều tiết lợi ích, biết mềm dẻo về phương thức nhưng kiên trì trong mục tiêu ổn định và phát triển quốc gia.
Một điểm đặc sắc trong tư duy phát triển của Thái Lan là Triết lý “Kinh tế vừa đủ” (Sufficiency Economy Philosophy - SEP). Vượt lên phạm vi một chính sách kinh tế, SEP là một triết lý quản trị phát triển dựa trên các nguyên tắc tiết độ, hợp lý, thận trọng, tăng cường năng lực tự miễn dịch xã hội, đồng thời đặt tri thức và đạo đức làm điều kiện cho phát triển bền vững. Trong bối cảnh thế giới liên tiếp trải qua khủng hoảng tài chính, đại dịch, biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng và bất định địa - chính trị, triết lý “vừa đủ” cho thấy giá trị thời đại: phát triển không phải là chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, mà là xây dựng năng lực chống chịu, sự cân bằng xã hội và khả năng thích ứng dài hạn.
Ở chiều sâu khác, Việt Nam xây dựng bản sắc văn hóa từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trải qua thiên tai, chiến tranh và những thử thách sinh tử của lịch sử, dân tộc Việt Nam hun đúc hệ giá trị yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, tự lực, tự cường, khoan dung nhưng không khuất phục; hòa hiếu nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Chính nền tảng ấy tạo nên bản lĩnh văn hóa Việt Nam: mềm dẻo trong ứng xử, nhân văn trong mục tiêu, kiên định trong nguyên tắc.
Quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa ngày càng toàn diện, sâu sắc. Văn hóa không chỉ là đời sống tinh thần, mà là sức mạnh nội sinh, là hệ điều tiết giá trị của phát triển, là nền tảng để xây dựng con người Việt Nam, xã hội Việt Nam và vị thế Việt Nam trong thế giới. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa Việt Nam càng thể hiện năng lực dung hợp: tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng không hòa tan; mở cửa với thế giới nhưng giữ vững bản sắc; chủ động hội nhập nhưng không đánh mất độc lập, tự chủ về đường lối phát triển.
Trên bình diện đối ngoại, những giá trị đó được kết tinh trong trường phái “ngoại giao cây tre Việt Nam”: gốc vững là nền tảng độc lập, tự chủ, lợi ích quốc gia - dân tộc và truyền thống văn hóa; thân chắc là bản lĩnh chính trị, sức mạnh tổng hợp quốc gia và sự kiên định về nguyên tắc; cành uyển chuyển là sách lược linh hoạt, mềm dẻo, thích ứng với từng đối tác, từng hoàn cảnh, từng biến động của thời cuộc. Đây không chỉ là một hình ảnh giàu tính biểu tượng, mà còn là sự khái quát sâu sắc bản sắc đối ngoại Việt Nam: kiên định mà không cứng nhắc, linh hoạt mà không cơ hội, hòa hiếu mà không nhân nhượng về nguyên tắc.
Từ góc nhìn chung, Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm gặp gỡ đáng chú ý. Cả hai đều coi trọng ổn định chính trị - xã hội, đề cao hòa bình và hợp tác, ưu tiên phát triển bền vững, kết nối, thích ứng và kiến tạo lòng tin. Lòng tin chiến lược được xây dựng từ sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa, lợi ích cốt lõi, giới hạn chiến lược và kỳ vọng phát triển của nhau. Khi văn hóa tạo nên đồng cảm, mở rộng không gian hợp tác, sức mạnh mềm văn hóa trở thành nguồn lực chính trị có ý nghĩa thực chất.
Đến thúc đẩy ngoại giao văn hóa, kết nối nhân dân hai nước
Trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Việc hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện năm 2025 đánh dấu bước phát triển mới về chất, phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao hơn, phạm vi hợp tác rộng hơn và yêu cầu phối hợp chiến lược sâu hơn trong bối cảnh khu vực, quốc tế biến động nhanh.
Trong kỷ nguyên mới, nền tảng đó chính là sự hiểu biết, tin cậy và đồng cảm giữa nhân dân hai nước. Ngoại giao văn hóa, trong ý nghĩa đó, là dòng chảy mềm đi trước mở đường, làm cho quan hệ quốc gia có chiều sâu xã hội, có sức bền tâm lý và có khả năng chống chịu trước biến động. Văn hóa giúp “đối tác” thành “người bạn hiểu nhau”, hợp tác thành gắn kết, lợi ích thành niềm tin.
Trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan, ngoại giao văn hóa có nhiều thuận lợi. Hai dân tộc cùng thuộc không gian văn minh Đông Nam Á, cùng coi trọng gia đình, cộng đồng, đạo lý, lễ nghĩa và sự hài hòa trong ứng xử. Người Việt Nam có truyền thống nghĩa tình, thủy chung, trọng hiếu đạo; người Thái Lan hiền hòa, mến khách, coi trọng nụ cười và phép ứng xử mềm mại. Những tương đồng đó tạo cảm giác gần gũi, làm cho giao lưu văn hóa trở thành quá trình nhận diện những giá trị chung trong sự khác biệt.
Du lịch là một kênh quan trọng của ngoại giao văn hóa. Việt Nam và Thái Lan đều là những điểm đến hấp dẫn của khu vực, có nền ẩm thực phong phú, di sản đa dạng, văn hóa lễ hội đặc sắc và năng lực dịch vụ ngày càng phát triển. Giao lưu du lịch không chỉ tạo dòng khách, doanh thu hay kết nối hàng không; quan trọng hơn, tạo những trải nghiệm trực tiếp, giúp người dân hai nước hiểu đời sống, phong tục, tâm lý và khát vọng của nhau.
Giáo dục, thanh niên và truyền thông số cũng là không gian mới của kết nối nhân dân. Trong điều kiện chuyển đổi số, thế hệ trẻ Việt Nam và Thái Lan có thể gặp nhau không chỉ qua các chương trình trao đổi sinh viên, trại hè, học bổng, diễn đàn thanh niên, mà còn qua phim ảnh, âm nhạc, ẩm thực, nền tảng số, sáng tạo nội dung và các cộng đồng trực tuyến. Đây là cơ hội để hình thành một thế hệ công dân ASEAN hiểu nhau hơn và có năng lực hợp tác xuyên biên giới cao hơn.
Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là một cầu nối mềm có giá trị đặc biệt. Với lịch sử hình thành lâu đời, gắn với dấu ấn hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan, cộng đồng người Việt không chỉ gìn giữ tiếng Việt, phong tục, tín ngưỡng, ký ức lịch sử và tình cảm hướng về quê hương, mà còn hòa nhập tích cực vào xã hội nước sở tại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan. Cộng đồng này làm cho quan hệ Việt Nam - Thái Lan có chiều sâu nhân văn riêng: không chỉ là quan hệ giữa hai nhà nước, mà còn là quan hệ giữa những gia đình, cộng đồng, thế hệ và ký ức chung.
Thời gian tới, để quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan đi vào chiều sâu, hai nước cần phát triển các chương trình giao lưu văn hóa có tính hệ thống, dài hạn, có trọng tâm, đối tượng cụ thể và có khả năng đo lường hiệu quả. Không chỉ dừng ở tuần lễ văn hóa, biểu diễn nghệ thuật hay sự kiện lễ tân; cần tiến tới các chương trình hợp tác sáng tạo, đồng sản xuất nội dung, kết nối di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau trên nền tảng số.
Một hướng rất đáng chú ý là hợp tác giữa các địa phương, nhất là các địa phương có cộng đồng người Việt đông đảo tại Thái Lan và các trung tâm văn hóa - du lịch của Việt Nam. Khi địa phương, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà báo và cộng đồng kiều bào cùng tham gia, ngoại giao văn hóa sẽ trở thành một hệ sinh thái kết nối xã hội rộng mở, khi đó sức mạnh mềm trở thành năng lực hành động, nguồn lực phát triển.
Và cùng phát triển để đóng góp vào Cộng đồng ASEAN tự cường
ASEAN là một khu vực đa dạng hiếm có về thể chế chính trị, tôn giáo, ngôn ngữ, sắc tộc và trình độ phát triển. Sự đa dạng ấy tạo nên bản sắc khu vực, nhưng cũng có thể trở thành thách thức nếu thiếu nền tảng đồng thuận. Chính vì vậy, văn hóa có vai trò đặc biệt, giúp các quốc gia thành viên tìm thấy điểm chung trong cái riêng, tìm được lợi ích dài hạn trong khác biệt ngắn hạn và duy trì đối thoại thay cho đối đầu. Trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị gia tăng, nguy cơ phân mảnh chuỗi cung ứng, xung đột cục bộ, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, tội phạm xuyên quốc gia và thách thức an ninh mạng ngày càng phức tạp, ASEAN càng cần đến “chất keo” văn hóa để giữ vững bản sắc cộng đồng. Là hai thành viên quan trọng của ASEAN, Việt Nam và Thái Lan có trách nhiệm cùng đóng góp vào sự đoàn kết, tự cường và vai trò trung tâm của ASEAN.
Trong cấu trúc khu vực hiện nay, văn hóa còn là nguồn lực bảo vệ vai trò trung tâm của ASEAN. Vai trò trung tâm không chỉ là vị trí trong các cơ chế hội nghị, mà là năng lực quy tụ, cân bằng và định hình chuẩn mực hợp tác. Một ASEAN biết phát huy sức mạnh văn hóa, biết xây dựng bản sắc cộng đồng và biết biến đa dạng thành sức mạnh sẽ có nền tảng vững chắc hơn. Vì vậy, hợp tác văn hóa Việt Nam - Thái Lan cần được đặt trong tầm nhìn rộng hơn: đóng góp vào Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, xây dựng không gian khu vực lấy người dân làm trung tâm, đề cao phát triển bao trùm, bền vững, nhân văn và tự cường. Hai nước có thể cùng thúc đẩy những sáng kiến văn hóa thiết thực, không chỉ quảng bá hình ảnh quốc gia, mà còn góp phần hình thành bản sắc ASEAN, nhất là trong thế hệ trẻ.
Trên bình diện chiến lược, có thể tập trung vào một số hướng lớn sau:
Thứ nhất, giao lưu nhân dân cần trở thành một chương trình hợp tác dài hạn, trọng tâm hướng vào thanh niên, sinh viên, nhà báo, học giả, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo và cộng đồng địa phương. Cần khuyến khích các chương trình trao đổi ngắn hạn, học bổng, trại sáng tạo, diễn đàn thanh niên Việt Nam - Thái Lan - ASEAN gắn với các chủ đề phát triển xanh, kinh tế số, di sản và đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, thúc đẩy hợp tác công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, nhất là trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, ẩm thực, du lịch văn hóa, xuất bản số và truyền thông đa nền tảng. Thái Lan có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng thương hiệu du lịch, ẩm thực, giải trí; Việt Nam có thị trường năng động, bản sắc văn hóa phong phú và đội ngũ sáng tạo trẻ. Sự bổ sung này có thể tạo ra sản phẩm chung hướng tới thị trường ASEAN và quốc tế.
Thứ ba, tăng cường chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy di sản, bao gồm số hóa tư liệu, bảo tàng ảo, bản đồ di sản, nền tảng giáo dục văn hóa số và cơ sở dữ liệu chung về giao lưu Việt Nam - Thái Lan. Trong thời đại số, di sản không chỉ nằm trong không gian vật lý mà cần được kể lại bằng ngôn ngữ mới, công nghệ mới và phương thức tiếp cận mới để chạm tới thế hệ trẻ.
Thứ tư, phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan và cộng đồng người Thái Lan tại Việt Nam như những chủ thể của ngoại giao nhân dân. Đẩy mạnh dạy và học tiếng Việt, bảo tồn di tích, tổ chức sự kiện văn hóa cộng đồng, kết nối doanh nhân kiều bào, đồng thời khuyến khích cộng đồng tham gia quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong xã hội nước sở tại.
Thứ năm, lồng ghép hợp tác văn hóa song phương vào các cơ chế ASEAN, nhất là trụ cột Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, các sáng kiến về bản sắc ASEAN, giáo dục công dân ASEAN, du lịch bền vững, bảo vệ di sản, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bao trùm. Đây là cách để quan hệ Việt Nam - Thái Lan không chỉ đem lại lợi ích cho hai nước, mà còn tạo giá trị cộng hưởng cho toàn khu vực.
Để các định hướng trên đi vào thực chất, cần một cách tiếp cận mới trong ngoại giao văn hóa: từ tư duy sự kiện sang tư duy chiến lược; từ quảng bá một chiều sang đối thoại hai chiều; từ hoạt động ngắn hạn sang hệ sinh thái hợp tác; từ tôn vinh di sản thành nguồn lực phát triển. Văn hóa chỉ thật sự trở thành sức mạnh mềm khi được tổ chức thành năng lực lan tỏa, năng lực kết nối và năng lực kiến tạo niềm tin.
Trong quan hệ với Thái Lan, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để triển khai một mô hình hợp tác văn hóa kiểu mới: vừa dựa trên tương đồng lịch sử - văn hóa, vừa hướng tới các lĩnh vực hiện đại như công nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số, truyền thông số và phát triển bền vững.
Đối với Thái Lan, hợp tác văn hóa với Việt Nam giúp mở rộng không gian gắn kết với một đối tác giàu tiềm năng, có vị trí ngày càng quan trọng trong ASEAN, có nền văn hóa giàu chiều sâu và thị trường xã hội năng động. Khi hai nước cùng phát huy thế mạnh mềm, quan hệ song phương sẽ có thêm chiều sâu xã hội, thêm dư địa phát triển và thêm khả năng chống chịu trước những biến động khó lường của môi trường quốc tế.
Sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan chính là một biểu hiện sinh động của tinh thần ASEAN: thống nhất trong đa dạng, độc lập nhưng liên kết, bản sắc nhưng cởi mở, hòa hiếu nhưng tự cường. Văn hóa là phần sâu, phần bền vững, phần giúp các quốc gia giữ được căn cốt và tìm thấy nhau trong khác biệt. Nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan cho thấy một chân lý giản dị mà sâu sắc: văn hóa làm cho hợp tác có chiều sâu và sức sống lâu dài. Trên nền tảng lòng tin chiến lược, sự đồng điệu văn hóa và khát vọng phát triển hòa bình, quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới - thực chất hơn, bền vững hơn, nhân văn hơn; đồng thời đóng góp tích cực vào xây dựng Cộng đồng ASEAN gắn kết, tự cường, thích ứng và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới./.
Nguồn: https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1247204/viet-nam---thai-lan--van-hoa-xay-tao-long-tin-chien-luoc.aspx








Коментар (0)