Ngày đông năm Ngọ của 12 năm trước, tôi rời Phật viện Đồng Dương (xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, Quảng Nam cũ; nay là xã Đồng Dương) khi ráng chiều yếu ớt dần rơi trên cánh đồng.
Cuốn sổ tay của người phóng viên trẻ ngày ấy ken đầy những câu chuyện hấp dẫn vừa lịch sử, vừa huyền thoại với dòng thủy đạo bí ẩn nối tháp Giếng với ao Vuông, những cuộc truy tìm kho vàng Hời, pho tượng Bồ tát Laksmindra Lokesvara mất đi những pháp khí trên tay hay tấm bia đá được xem như “giấy khai sinh” của Phật viện Đồng Dương bị vỡ tan tành sau những biến thiên của lịch sử.
Ngày ấy, tôi từng nghĩ mình sẽ sớm trở lại. Rằng rồi những cuộc khảo cổ mới, những phát hiện mới dưới lòng đất của một trung tâm Phật giáo từng được xem là lớn nhất Đông Nam Á sẽ lại kéo bước chân tôi tìm về.
Nhưng lời hẹn với Đồng Dương kéo dài trọn một vòng giáp Ngọ. 12 năm trôi qua, đủ để một làng quê thay đổi dáng hình nhưng với Phật viện Đồng Dương, nhiều bí mật vẫn tiếp tục nằm yên dưới những thửa ruộng, rẫy keo... Và giữa không gian tĩnh lặng ấy, mảng tường gạch tháp Sáng vẫn đứng đó, cô độc đi qua năm tháng.
Trong lần đầu tìm về Đồng Dương, tôi đã bắt gặp những khung thép ôm lấy thân tháp Sáng. Bởi trước đó, vào năm 2013, kiến trúc sư Tô Chí Vinh cùng các cộng sự đã đưa ra giải pháp gia cố khẩn cấp để cứu lấy phần còn lại của ngọn tháp.
Những khung thép ấy, được người thiết kế gọi là những “bàn tay đỡ” - những bàn tay bằng thép với các điểm tựa bằng gỗ áp nhẹ vào thân tháp, nâng niu từng viên gạch. Lần trở lại này, những bàn tay ấy vẫn lặng lẽ ở đó. Chỉ có điều, sau một vòng giáp Ngọ, trong cảm nhận của tôi, ngay chính cả những “bàn tay” nâng đỡ năm nào cũng trở nên rệu rã.
Tháp Sáng vẫn đứng đó giữa cánh đồng Đồng Dương, như nó đã đứng suốt hơn một ngàn năm qua để chứng kiến những ngày huy hoàng của Phật viện rồi lụi tắt vì chiến tranh, ly loạn... Sức “công phá” của thời gian có thể làm những viên gạch thêm rêu phong nhưng có lẽ điều khiến những người yêu văn hóa Chăm day dứt hơn cả là sau tròn 1 thập niên được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt (ngày 22/12/2016), ngọn tháp ấy vẫn phải dựa vào những “bàn tay đỡ” để tồn tại. Và cũng như chính Đồng Dương đang lặng lẽ chờ một ngày được đánh thức.
Nếu tháp Sáng là chứng nhân bằng gạch đá của hơn ngàn năm lịch sử, thì những người già ở Đồng Dương chính là những chứng nhân bằng ký ức.
12 năm trước, trong những ngày lang thang giữa bạt ngàn cây cỏ, tôi tìm đến cụ Trà Diếu, cụ Trà Tấn Huệ (lúc này tuổi đã tầm 80) để nghe những câu chuyện được truyền lại qua nhiều thế hệ. Qua lời kể của các cụ, Đồng Dương không chỉ là những viên gạch nằm im dưới lòng đất, mà còn là một vùng đất chất chứa bao huyền tích. Lần trở lại này, tôi không còn gặp lại những người kể chuyện năm nào. Những mái đầu bạc đã lặng lẽ đi xa theo năm tháng…
Người ngồi trước mặt tôi hôm nay là cụ Trần Tấn Nhỏ, cũng đã bước sang tuổi 80. Qua từng câu chuyện, Đồng Dương trong cụ Nhỏ hiện lên rõ ràng với những nền tháp đã mất dấu, những pho tượng từng nằm giữa đồng và những câu chuyện truyền đời của người làng.
Ngồi nghe cụ Nhỏ kể chuyện, mới thấy với một ngọn tháp đã tồn tại hơn ngàn năm, 12 năm chỉ như một cái chớp mắt nhưng với đời người, một vòng con giáp là cả một quãng dài để những người kể chuyện lần lượt rời đi. 12 năm trước, tháp Sáng được những “bàn tay đỡ” bằng thép nâng lên để níu lấy phần còn lại. 12 năm sau, tháp Sáng vẫn đứng đó, “nhìn” những thế hệ người Đồng Dương sinh ra, lớn lên rồi già đi.
Nhưng gạch đá có thể chờ thêm trăm năm, còn đời người thì không. Người kể chuyện ngày xưa cũng lần lượt khuất bóng. Nói đến đây, cụ Nhỏ lặng đi một lúc. Điều cụ đau đáu không phải là những bí mật chưa được khai mở, mà là liệu trong phần đời còn lại của mình, cụ có kịp nhìn thấy ngày Đồng Dương thật sự đổi thay hay không. “Tui già rồi, không biết còn sống được bao lâu nữa. Hồi xưa còn thấy nhiều dấu tích, còn nghe mấy cụ kể chuyện Đồng Dương. Giờ các cụ mất hết rồi, tui cũng gần 80 tuổi. Chỉ mong trước khi nhắm mắt còn thấy người ta làm được cái chi đó cho cái tháp, cho Đồng Dương, chứ sợ không kịp...”, cụ Nhỏ nghẹn giọng.
Gắn bó với Đồng Dương ngay từ những ngày đầu về nhận công tác văn hóa tại huyện Thăng Bình (cũ), khoảng 10 năm qua, chị Như Lai dần quen cảnh, tháng trước mới gặp người già của làng để nghe chuyện Phật viện, tháng sau tìm lại thì họ không còn nữa.
Chị còn nhớ rất rõ những chuyến điền dã quanh khu di tích, men theo những bờ ruộng… để chép lại từng mẩu chuyện nhỏ mà các cụ kể. Có khi là chi tiết một cây đại thụ mọc trong lõi di tích, có khi là lời lý giải về những cái tên mộc mạc gắn với làng quê như tháp Giếng, tháp Tối… Tuy không liền mạch, nhưng với Như Lai, đây là cách duy nhất để chị “chạm” vào một Đồng Dương với những cảm xúc sống động, chân thực nhất.
“Mỗi lần quay lại, thấy vắng đi một người quen, lòng tôi dâng lên một cảm xúc khó tả, buồn man mác… Kiểu như mình chưa kịp hỏi han thêm điều gì thì người ta đã đi mất rồi, để lại khoảng trống khó lấp đầy. Tôi cũng hay nghĩ, rồi một ngày mình cũng sẽ già đi như các cụ bây giờ. Lúc đó không biết còn nhớ được bao nhiêu chuyện đã từng điền dã, từng ghi chép lại ở đây. Chỉ lo đến khi ấy, cái tên Phật viện vẫn còn đó, tháp vẫn đứng đó mà những người từng nhớ, từng kể về nó thì không còn nữa”, chị Lai tặc lưỡi.
Có lẽ, sự mong manh nhất của một di sản không chỉ nằm ở những viên gạch đang bị thời gian bào mòn mà còn ở khoảng thời gian hữu hạn của những con người đã dành cả cuộc đời để lưu giữ ký ức về nó.
Tôi từng nhiều lần tự hỏi, dưới những trảng cỏ ở Đồng Dương kia còn bao nhiêu bí mật của một kinh đô Phật giáo từng rực rỡ. Nhưng sau ngần ấy năm, có lẽ cần câu trả lời cho một câu hỏi khác cấp thiết hơn: chúng ta sẽ làm gì để những gì còn sót lại của Đồng Dương không tiếp tục mất đi?
Tại hội thảo quốc gia về nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật viện Đồng Dương diễn ra vào giữa tháng Năm vừa qua, các nhà khoa học một lần nữa khẳng định giá trị đặc biệt của quần thể di tích này.
Đồng Dương là một trung tâm Phật giáo Đại thừa lớn của Champa vào cuối thế kỷ IX, đầu thế kỷ X, nơi hội tụ những ảnh hưởng sâu sắc từ Ấn Độ và các dòng chảy Phật giáo trong khu vực. Nhưng đi cùng niềm tự hào ấy là thực tế xót xa, bởi phần lớn Phật viện Đồng Dương là phế tích.
TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho biết dù không phải là nhà khảo cổ hay nhà nghiên cứu văn hóa, ông vẫn thực sự bị ám ảnh khi nhìn hình ảnh tháp Sáng phải “chống nạng” hay tấm bia được xem như “giấy khai sinh” của Phật viện Đồng Dương bị vỡ thành nhiều mảnh. Chính những thương tích ấy, theo ông Thanh, lại đặt lên vai thế hệ hôm nay trách nhiệm phải tìm cách để di sản hồi sinh. Nhưng trong hành trình hồi sinh ấy không có chỗ cho sự bắt đầu bằng việc phục dựng vội vàng.
Bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh rằng việc phục dựng nguyên trạng Phật viện Đồng Dương gần như không khả thi. Con đường phía trước là tiếp tục khảo cổ, hoàn thiện cơ sở dữ liệu khoa học, ứng dụng công nghệ số, công nghệ 3D để phục dựng không gian di tích, mở rộng nghiên cứu các khu vực liên quan, đưa Đồng Dương từ một phế tích tĩnh trở thành một di sản sống gắn với cộng đồng, từng bước hướng đến khát vọng trở thành Di sản văn hóa thế giới.
Trước khi rời Phật viện lúc mặt trời đứng bóng, tôi bước vào khoảng không nhỏ bé còn sót lại trong lòng tháp Sáng. Ánh nắng chính ngọ xuyên qua những khoảng hở, in xuống nền gạch những vệt bóng đan xen của hệ khung thép đang nâng đỡ thân tháp. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu vì sao TS. Đặng Xuân Thanh gọi tháp Sáng “chống nạng”. Bộ khung thép ấy không chỉ gánh đỡ một công trình kiến trúc mà còn nâng đỡ cả một phần ký ức của Đồng Dương với nhiều mất mát và lãng quên. Sau 1 thập kỷ chờ đợi, di tích quốc gia đặc biệt Đồng Dương cần nhiều hơn những “bàn tay sắt” hay “cặp nạng thép” mà đó là bàn tay của khoa học, của trách nhiệm và tình yêu dành cho một di sản ngàn năm…
Nguồn: https://baodanang.vn/duoi-bong-thap-chong-nang-3342149.html








