Đứa con của phù sa
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng gọi Gò Nổi là "đứa con của phù sa", để nhắc rằng vùng đất này được bồi tụ bằng phù sa dòng sông, bằng nghề nông, bằng tập quán cư trú quần tụ rất đặc trưng của cư dân miền Trung. Và không chỉ với Gò Nổi, những làng quê ven sông Thu như những miền đất tĩnh lặng, nơi người trẻ rời đi và người già ở lại giữ ruộng đồng, giữ nếp nhà, giữ những mùa lụt bồi lở theo năm tháng.
Nhưng vài năm trở lại đây, nhiều ngôi làng ven Thu Bồn bắt đầu chuyển mình. Từ bến nước, ruộng dưa, gánh mỳ, bờ tre, bữa cơm quê, tiếng hò trên sông, hay mùi dầu phụng thơm lên từ căn bếp nhỏ, những ngôi làng ấy bừng thức.
Những ngày đầu hè, trở về vùng Gò Nổi, cảm giác rõ nhất vẫn là màu xanh. Từ phía cầu Đen dẫn vào Cẩm Phú, những con đường nhỏ phủ bóng cây, những hàng chè tàu cắt tỉa gọn gàng, những cánh đồng rau nối nhau chạy dọc triền sông.
Cẩm Phú từng tạo nên một “cơn sốt” nhỏ vào những mùa lễ hội vài năm trước. Bến Phẩm ven sông Thu Bồn bỗng trở nên nhộn nhịp với những chòi tranh dựng dọc bãi bồi, những lối hoa dẫn khách vào làng, những gánh bánh bèo nghi ngút khói, những mẹt rau sống xanh mướt vừa cắt ngoài đồng.
Người ta đến đây để tìm cảm giác được sống trong một không gian quê còn nguyên mùi đất phù sa. Cũng là một thứ cảm giác ngày càng hiếm trong các đô thị đang phát triển quá nhanh.
Gò Nổi vốn là miền đất đặc biệt của xứ Quảng. Bao đời nay, vùng đất nằm giữa những nhánh sông Thu Bồn vẫn được gọi bằng cái tên rất dân dã, là miệt nông nghiệp của Điện Bàn (cũ).
Ở đây, người dân vẫn giữ thói quen ép dầu phụng thủ công, làm mỳ, làm bánh bèo, giữ nếp sinh hoạt cộng cư của làng quê truyền thống. Chính những điều tưởng như bình thường ấy lại trở thành thứ tài nguyên đặc biệt trong mắt du khách hôm nay.
Ông Nguyễn Thành, một nông dân ở Cẩm Phú, từng nói vui rằng trước đây bãi đất ven Bến Phẩm chỉ là nơi người làng ra hóng mát mỗi chiều.
Giờ thì người dân bắt đầu nhìn thấy cơ hội từ chính vùng đất ven sông của mình. Người trồng thêm hoa, người dựng lại hàng tre, người chỉnh trang vườn tược, người tập nấu ăn phục vụ khách.
“Tụi tui không nghĩ làm du lịch là xây cái gì lớn lao. Chỉ là giữ cho làng mình đẹp hơn, sạch hơn, để người ta về rồi thương đất này”, ông Thành nói.
Điều đáng chú ý là trong nhiều mô hình du lịch cộng đồng ven sông Thu Bồn hiện nay, người trẻ bắt đầu đóng vai trò dẫn dắt. Họ trở về làng, tham gia hợp tác xã, xây dựng sản phẩm nông nghiệp sạch, tổ chức tour trải nghiệm, quảng bá làng quê trên nền tảng số.
Gánh theo tên đất tên làng
Dọc theo Thu Bồn, hiếm nơi nào mà đặc sản địa phương lại gắn chặt với tên làng như vùng Điện Bàn.
Người Quảng có cách định danh rất riêng. Món ăn được gọi bằng tên đất. Là mỳ Phú Chiêm, bê thui Cầu Mống, bánh tráng Đại Lộc, bắp nếp Cẩm Nam…
Mỗi món ăn như cõng theo cả ký ức địa phương trên hành trình mưu sinh.
Ngày hội mỳ Quảng ở làng Phú Chiêm những năm gần đây cho thấy rõ điều đó. Từ những gánh mỳ đi khắp nơi, người ta nhận ra hương vị riêng của mỳ Phú Chiêm không thể lẫn với nơi nào khác. Từ sợi mỳ, nước nhưn đến cách nêm nếm đều mang theo dấu ấn của cộng đồng làng nghề.
Ẩm thực vì thế trở thành “tấm hộ chiếu văn hóa” hiệu quả nhất của các làng quê xứ Quảng. Khách du lịch có thể quên một khu lưu trú đẹp, nhưng rất khó quên hương vị của một món ăn từng khiến họ xúc động. Đó là lý do nhiều làng quê ven sông Thu Bồn hôm nay bắt đầu nhìn ẩm thực như một trụ cột để phát triển du lịch cộng đồng.
Ở Điện Phương, nhiều hộ dân đã mở không gian trải nghiệm nấu mỳ Quảng, làm bánh tráng... Ở Triêm Tây, khách có thể chèo thuyền, đạp xe qua làng rồi ăn bữa cơm quê với rau vườn, cá sông. Ở Cẩm Kim, nghề mộc truyền thống được kết nối với tour trải nghiệm văn hóa làng nghề.
Thu Bồn từng là dòng sông thương cảng, nơi nối Hội An với miền ngược, nơi ghe bầu xuôi ngược chở theo hàng hóa và văn hóa suốt nhiều thế kỷ. Hôm nay, dòng sông ấy lại đang mở ra một hành trình khác với chuyện hồi sinh những nếp sống xưa, thu hút du khách bằng chính giá trị bản địa.
Từ Đại Lộc xuống Duy Xuyên, Điện Bàn rồi về Hội An, dọc dòng Thu Bồn vẫn còn rất nhiều làng quê đẹp, nhiều nghề truyền thống, nhiều ký ức văn hóa chưa được đánh thức.
Có thể đó là những làng trồng hoa màu ven sông. Những xóm chài còn giữ nghề đánh bắt thủ công. Những bến nước gắn với lịch sử giao thương. Những làng nghề mộc, nghề chiếu, nghề làm bánh vẫn âm thầm tồn tại.
Nếu được kết nối bài bản, cả vùng hạ lưu Thu Bồn hoàn toàn có thể hình thành một hành lang du lịch cộng đồng đặc sắc của miền Trung.
Ở đó, du khách không chỉ đi qua những điểm đến, mà đi qua những câu chuyện của làng quê Việt.
Nguồn: https://baodanang.vn/bung-thuc-nhung-ngoi-lang-ven-song-3338782.html








نظر (0)