Vietnam.vn - Nền tảng quảng bá Việt Nam

Khai lộ đạo học

Khi thời cuộc thay đổi, giáo dục cũng phải thay đổi để tồn tại và dẫn dắt. Trước làn sóng văn minh phương Tây vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và cơn bão công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) hiện tiền, câu hỏi “học để làm gì, học như thế nào” vẫn nguyên tính thời sự.

Báo Đà NẵngBáo Đà Nẵng21/03/2026

Doanh hoan chi luoc
Sách Doanh hoàn chí lược (Sơ lược địa lý thế giới) - sách tân học nhập vào Việt Nam thế kỷ 19. Nguồn: internet

Nhìn lại tinh thần khai dân trí của Phan Châu Trinh và Phong trào Duy tân đầu thế kỷ 20 không chỉ là việc ôn cố mà còn là cách để tri tân, tìm thấy “đạo học” tất yếu cho một Việt Nam đang vươn mình trong kỷ nguyên số.

Nho sĩ “ chuyển làn”

Tư tưởng Nho học vẫn đề cao triết lý “học vi dụng” (học để dùng), “thư đáo dụng thời phương hận thiểu” (sách vở khi vào thực tế mới hận rằng không đủ). Nhưng với bối cảnh thế giới nửa cuối thế kỷ 19, nội dung cốt lõi của khoa cử cựu học ở các quốc gia ảnh hưởng Nho giáo nói chung và Việt Nam nói riêng đã không còn phù hợp.

Nửa cuối thế kỷ 19, trước họa xâm lăng, những trí thức Nho học tiên phong như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thành Ý đã sớm nhận ra “xe chạy bằng hơi nước, tàu chạy bằng trục vít, đèn cháy bằng khí, tất cả đều là những điều chưa từng có” (Nguyễn Trường Tộ). Họ dâng lên triều đình những bản điều trần tâm huyết, đề nghị canh tân từ giáo dục, kinh tế đến quốc phòng. Những tiếng gõ cửa canh tân ấy vọng vào cung triều đã không được hồi đáp.

Bước sang đầu thế kỷ 20, một thế hệ Nho sĩ mới xuất hiện, với “bộ ba” đất Quảng: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Không chỉ nhận ra sự lạc hậu của khoa cử đương thời, họ còn hành động quyết liệt để mong đổi mới. Những kỳ thi Hương trở thành diễn đàn chính trị, nơi họ lợi dụng trường thi để lên án lối học từ chương, khoa cử hủ lậu.

“Chuyển làn” từ cựu học sang tân học, từ học để làm quan sang học để “làm giàu”, từ lối mòn trung quân sang đường mới trọng dân, họ đặt viên gạch đầu tiên cho con đường khai dân trí. Tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” dần hình thành, không chỉ là lời kêu gọi mà đã trở thành lộ trình và “vô lăng” hành động, đi đến đích “chỉ ư chí thiện” (đứng ở điểm tốt nhất).

Buổi sinh hoạt chuyên đề Dạy học lồng ghép giáo dục quốc phòng an ninh trong môn Âm nhạc có ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo AI.
Buổi sinh hoạt chuyên đề dạy học lồng ghép giáo dục quốc phòng an ninh trong môn Âm nhạc có ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo. Ảnh: V.T

Khai lộ tân học

Với truyền thống khoa bảng, có điều kiện tiếp nhận văn minh phương Tây, từng đề xuất những tư tưởng canh tân tiến bộ, tầng lớp Nho sĩ đất Quảng càng có thêm kinh nghiệm và cơ sở để chủ trương tinh thần thực học, thực nghiệp, và hơn thế nữa là thực thi khai dân trí.

Đất Quảng Nam chính là “cái nôi” của Phong trào Duy tân, nơi tư tưởng khai dân trí được thực thi một cách sống động nhất. Ngay từ năm 1906, các trường học mới mọc lên như Nghĩa thục Diên Phong (Điện Bàn) - nơi thầy giáo Phan Thành Tài vừa dạy chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp vừa truyền bá tư tưởng yêu nước. Tinh thần thực học, thực nghiệp được đề cao qua những vần thơ dễ nhớ: “Mau mau đi học lấy nghề/ Học rồi ta sẽ đem về dạy nhau”, “Học là học có nghề có nghiệp/ Trước giữ mình sau giúp người ta”.

Phan Châu Trinh trong bản điều trần gửi chính phủ Pháp đã đề xuất những việc làm hết sức thực tế: lập trường tiểu học ở hương thôn, lập hội Tân học, hội diễn thuyết, thậm chí cả hội hớt tóc ngắn, mặc Âu phục, hội cải cách vải ta. Đặc biệt, vấn đề nữ quyền cũng được coi trọng, với quan điểm “nam nữ bình đẳng, bình quyền”, “đàn bà, con gái vẫn theo học như con trai”.

Từ giáo dục, sự thay đổi lan tỏa sang thương nghiệp với các hợp thương, nông hội; lan tỏa sang văn hóa, tư tưởng với sự ra đời của chữ Quốc ngữ, báo chí, diễn thuyết. Tân học đã mở ra một con đường mới, thay đổi nhận thức của cả một thế hệ, biến Quảng Nam thành căn cứ địa của phong trào trước khi lan rộng ra Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

“Cao tốc” giáo dục

Khai dân trí tức không chỉ mở mang dân trí, nâng cao dân trí mà còn thay đổi dân trí, chuyển từ lối cựu học sang lối tân học. Dân trí thay đổi thì nhận thức về quyền dân chủ mới được thay đổi và nâng cao. Đó là con đường - đạo học tất yếu của Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Nếu đầu thế kỷ 20, cựu học Nho giáo lạc hậu trước thành tựu khoa học phương Tây, thì hôm nay, nền giáo dục truyền thống cũng đang đối mặt với thách thức chưa từng có từ trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số. Không thể dạy những gì đã cũ cho một thế giới hoàn toàn mới. Tinh thần “Khai dân trí” của Phan Châu Trinh vẫn còn nguyên giá trị nhưng cần một cách hiểu khác: khai dân trí trong thời đại số không chỉ là phổ cập kiến thức, mà là dạy cách tư duy, cách thích ứng, cách làm chủ công nghệ.

Bài học từ tư tưởng “Khai dân trí”, khai lộ đạo học của Phan Châu Trinh là bài học về phương pháp. Trong bối cảnh bùng nổ giáo dục số và quyền con người số, Việt Nam cần một “đạo học” mới, lấy người học làm trung tâm, lấy thực học làm gốc, lấy sáng tạo làm động lực.

120 năm trước, tinh thần Duy tân, tư tưởng “Khai dân trí”, thành tựu “khai lộ đạo học” đã soi đường cho một thế hệ vươn lên tự cường, thì hôm nay, tinh thần ấy phải tiếp tục dẫn lối cho một cuộc “đại tốc độ” trên con đường giáo dục, để đưa đất nước bắt kịp, tiến cùng và vượt lên trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, theo tinh thần Nghị quyết số 71‑NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Nguồn: https://baodanang.vn/khai-lo-dao-hoc-3328862.html


Bình luận (0)

Hãy bình luận để chia sẻ cảm nhận của bạn nhé!

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục

Cùng tác giả

Di sản

Nhân vật

Doanh nghiệp

Thời sự

Hệ thống Chính trị

Địa phương

Sản phẩm

Happy Vietnam
Đường xuống từ đỉnh Fanxipang

Đường xuống từ đỉnh Fanxipang

Áo dài vui vẻ

Áo dài vui vẻ

Khám phá Pù Luông

Khám phá Pù Luông