Sự kế thừa và chuyển hóa giữa các nền văn hóa đã tạo nên một quá trình tiếp biến, hình thành bản sắc của vùng đất Trà Kiệu - một không gian văn hóa đa tầng, nơi dấu tích của quá khứ vẫn hiện diện trong đời sống đương đại.
Không gian giao thoa của các nền văn hóa cổ
Kết quả các cuộc khai quật khảo cổ học từ cuối thế kỷ 19 đến nay cho thấy Trà Kiệu là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng ở miền Trung Việt Nam. Tại nhiều địa điểm như gò Mả Vôi, gò Miếu Ông, gò Bờ Rang…, các nhà nghiên cứu đã phát hiện hệ thống mộ chum cùng nhiều hiện vật tùy táng. Các di tích này được xác định thuộc văn hóa Sa Huỳnh, có niên đại cách nay khoảng 2.000 - 2.500 năm.
Qua nghiên cứu các di vật trong tầng văn hóa, các nhà khảo cổ cho rằng cư dân Sa Huỳnh ở lưu vực sông Thu Bồn đã đạt trình độ phát triển khá cao về kinh tế và kỹ thuật. Điều này tạo nên những tiền đề quan trọng cho sự hình thành các trung tâm chính trị - kinh tế ở giai đoạn sau. Các loại di vật phát hiện được ở các di chỉ Sa Huỳnh trong vùng Trà Kiệu như đồ gốm có in văn ô vuông kiểu Hán, mũi tên đồng, giáo đồng, gương đồng, phong nê gốm (một loại con dấu niêm phong của nhà Hán)… cho thấy có sự giao thoa giữa văn hóa Sa Huỳnh với văn hóa Hán và văn hóa Đông Sơn.
Bước sang những năm đầu Công nguyên, trên nền tảng của văn hóa Sa Huỳnh, đã xuất hiện các thực thể chính trị sơ khai tại dải đất miền Trung Việt Nam. Từ những năm cuối của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học người Pháp đã nghiên cứu khu vực Trà Kiệu. Năm 1927 - 1928, J. Y. Claeys tổ chức khai quật Trà Kiệu với quy mô lớn, qua đó, ông đã phác họa được quy mô của di tích, đồng thời chứng minh được Trà Kiệu chính là kinh thành Simhapura của vương quốc Champa.
Trong thời kỳ Champa, khu vực này tồn tại nhiều công trình tôn giáo quan trọng. Dấu tích khảo cổ học cho thấy tại Trà Kiệu từng có những đền tháp thờ các vị thần Ấn Độ giáo bên cạnh các công trình Phật giáo ở giai đoạn sớm. Điều đáng chú ý là các yếu tố tôn giáo Ấn Độ không tồn tại nguyên gốc mà đã được bản địa hóa, kết hợp với tín ngưỡng dân gian của cư dân Champa. Chính sự dung hợp này đã tạo nên một hình thức tôn giáo đặc trưng của vương quốc Champa.
Từ Simhapura đến Ngũ xã Trà Kiệu - sự kế thừa và biến đổi
Vào năm 1471, sau cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông, nhiều lưu dân người Việt từ Thanh - Nghệ đã theo chân các đoàn quân vào khai phá vùng đất mới. Trong số những người đi mở cõi, có 13 vị được phép đưa gia quyến vào ở lại khai canh tại vùng đất cố đô Champa, hình thành nên Trà Kiệu xã - một cộng đồng làng xã sớm của xứ Quảng. Ranh giới ban đầu của Trà Kiệu xã rất rộng, được cho là: Nam khóa Tào sơn (Nam trùm núi Hòn Tàu), Bắc cự Sài thủy (Bắc chắn sông Chợ Củi), Ðông lâm Quế hạt (Ðông giáp Quế Sơn), Tây chấm Tùng sơn (Tây tựa núi Dương Thông).
Trong quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa, người Việt đã tiếp thu nhiều kỹ năng nghề thủ công và kinh nghiệm sản xuất của cư dân Champa. Những làng dệt nổi tiếng như Mã Châu, Thi Lai, Đông Yên… đã kế thừa kỹ thuật dệt của người Chàm, kết hợp với kinh nghiệm dệt truyền thống của người Việt để tạo nên những sản phẩm vải lụa đặc sắc. Lụa Duy Xuyên không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn tham gia vào các tuyến thương mại quốc tế trên biển Đông Nam Á.
Sau khi người Việt đến định cư, các thiết chế tín ngưỡng mang đặc trưng văn hóa Việt dần được hình thành và ổn định trong đời sống cộng đồng. Trong đó, đình làng và nhà thờ Tiền hiền Ngũ xã Trà Kiệu là nơi tri ân và tưởng niệm những bậc tiền nhân có công khai khẩn, lập làng trên vùng đất này. Bên cạnh đó, Phật giáo cũng phát triển khá sâu rộng trong đời sống tâm linh của cư dân Việt, thể hiện qua ngôi chùa làng Trà Kiệu. Trong quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa, người Việt còn thờ phụng một số thần linh Champa.
Đến thế kỷ 17 - 18, cùng với sự truyền bá đạo Thiên chúa của các giáo sĩ phương Tây, Trà Kiệu dần trở thành một trong những trung tâm Công giáo quan trọng của miền Trung. Điều đáng chú ý là tín ngưỡng Thiên chúa giáo tại Trà Kiệu không tách rời khỏi đời sống văn hóa truyền thống địa phương. Trong cộng đồng giáo dân, nhiều phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống của người Việt vẫn được duy trì song song với sinh hoạt tôn giáo. Đó là sự dung hòa các yếu tố tôn giáo phương Tây với nền tảng văn hóa địa phương.
* * *
Từ thời đại Sa Huỳnh đến Champa, tiếp đó là quá trình hội nhập vào không gian văn hóa Đại Việt và sau này là sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây, mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại những dấu ấn rõ nét trong cấu trúc văn hóa của vùng đất Trà Kiệu.
Trải qua hơn năm thế kỷ kể từ khi vùng đất này thuộc về Đại Việt, dù xã hội có nhiều biến động, nhưng truyền thống gắn kết của cư dân Ngũ xã Trà Kiệu vẫn được duy trì bền bỉ. Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu vẫn là không gian tâm linh chung của cộng đồng, nơi thờ phụng các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn, dựng làng, lập ấp. Hằng năm, vào dịp tháng Ba âm lịch, các thế hệ cư dân Ngũ xã lại trở về hội tụ tại đây để dâng hương tưởng niệm và tri ân công đức tổ tiên.
Nguồn: https://baodanang.vn/tiep-bien-van-hoa-tren-dat-tra-kieu-3330146.html






Bình luận (0)