VIỆC định hình tư duy “không gian kinh tế” đang mở ra hướng phát triển bền vững cho quế Trà My, lâm sản được xem là báu vật núi rừng này.
Phát triển từ thực tiễn
Quế Trà My, từ lâu đã được biết đến là dược liệu quý với nguồn gen đặc hữu, điều kiện sinh thái đặc thù, hàm lượng tinh dầu cao cùng nhiều hoạt tính sinh học giá trị. Tuy nhiên, để thực sự trở thành nguồn lực kinh tế mạnh mẽ, cần sự thay đổi quyết liệt trong tư duy sản xuất.
Ông Trịnh Minh Nhựt, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Quế sinh thái Trà Leng (xã Trà Leng) cho biết, với mong muốn không chỉ dừng lại ở việc bán sản phẩm thô, hợp tác xã được thành lập vào năm 2020 nhằm từng bước nâng tầm giá trị cây quế địa phương. Đến nay, đơn vị đã phát triển hơn 20 sản phẩm chế biến từ quế như tinh dầu quế, nước rửa chén, nước lau sàn, bột quế…
Bên cạnh phát triển sản phẩm, hợp tác xã cũng chú trọng xây dựng chuỗi giá trị cây quế bằng cách tích cực vận động người dân tham gia trồng, hỗ trợ tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật; từ đó định hướng phát triển theo mô hình sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh quy mô lớn.
Cùng chung khát vọng đưa hương quế vươn xa, Hợp tác xã Quế Trà My Minh Phúc (xã Trà My) đã tận dụng hiệu quả tài nguyên bản địa để phát triển sản phẩm OCOP chất lượng cao. Bà Nguyễn Thị Việt, Giám đốc hợp tác xã, chia sẻ: “Kinh doanh dựa trên tài nguyên bản địa là lợi thế cạnh tranh lớn nhất, nhưng thách thức nằm ở việc phải đổi mới công nghệ. Chúng tôi xác định không bán nguyên liệu thô mà tập trung vào chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn để tận dụng tối đa giá trị cây quế”.
Để thực hiện mục tiêu này, hợp tác xã đã đầu tư nhà xưởng rộng hơn 1.000m2 đạt chuẩn ISO 9001:2015, trang bị máy móc chưng cất tinh dầu và dây chuyền chiết rót hiện đại. Đến nay, đơn vị đã ra mắt gần 20 dòng sản phẩm thương mại, trong đó tinh dầu quế là sản phẩm chủ lực đạt chuẩn OCOP 4 sao.
Hợp tác xã còn xây dựng vùng nguyên liệu bền vững theo chuỗi liên kết thông qua việc ký kết hợp tác với 76 hộ dân, quản lý diện tích vùng trồng gần 150ha. Để đảm bảo chất lượng trong quá trình chế biến sâu, hợp tác xã tập huấn kỹ thuật cho nông dân và áp dụng quy trình GACP (thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu).
Đồng thời đơn vị chủ động hợp tác với Viện Dược liệu (Bộ Y tế) và các tổ chức quốc tế như PUM (Hà Lan), Quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học VFBC (Mỹ) nhằm chuyển giao kỹ thuật, giúp sản phẩm đạt các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.
Xây dựng “không gian kinh tế quế”
Quế Trà My hiện phân bố chủ yếu ở vùng núi phía tây thành phố, nơi có khí hậu mát ẩm quanh năm và lượng mưa lớn. Diện tích quế toàn vùng đạt gần 4.000ha, tập trung tại các xã như Trà Leng, Trà Vân, Nam Trà My hay Trà Tập.
Ông Châu Minh Nghĩa, Chủ tịch UBND xã Trà Leng, cho rằng việc phát triển công nghiệp chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm là một trong những hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị quế Trà My. Nếu chỉ dừng ở khai thác nguyên liệu thô, giá trị kinh tế của cây quế sẽ rất hạn chế và dễ phụ thuộc vào biến động thị trường. Khi kết hợp khoa học - công nghệ với tri thức bản địa, có thể phát triển một hệ sinh thái sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Do đó, lãnh đạo xã Trà Leng đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch vùng quế theo hướng: ổn định vùng lõi bảo tồn nguồn gen, phát triển vùng nguyên liệu phù hợp với điều kiện sinh thái và hạn chế mở rộng tự phát. Bên cạnh đó, cần phát triển hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số để nâng cao năng lực kết nối thị trường cho sản phẩm.
Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết, theo định hướng quy hoạch, đến năm 2030, vùng quế Trà My phấn đấu đạt quy mô khoảng 10.000ha, trong đó ổn định vùng nguyên liệu 7.500ha và trồng mới 2.500ha. Đây là quy mô đủ lớn để hình thành vùng dược liệu và hương liệu có khả năng cạnh tranh nếu được tổ chức theo chuỗi giá trị đồng bộ.
Tuy nhiên, bà Hậu cũng thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn nhiều thách thức như: diện tích trồng còn phân tán, nguy cơ lai tạp giống; năng lực chế biến sâu còn hạn chế; liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ; hạ tầng vùng miền núi còn khó khăn…
“Có thể khẳng định, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở giá trị tự thân của cây quế mà ở việc chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái phát triển cho ngành hàng quế, bao gồm: giống chuẩn, vùng nguyên liệu tập trung, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu và cơ chế liên kết bền vững giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - hợp tác xã - người dân”, bà Hậu nhận định.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, trong giai đoạn mới, phát triển quế Trà My cần được tiếp cận theo tư duy “không gian kinh tế quế” thay vì cách tiếp cận đơn thuần là phát triển một loại cây trồng lâm nghiệp. Đây là cấu trúc phát triển tổng hợp, trong đó cây quế đóng vai trò trung tâm, kết nối nhiều lĩnh vực: vùng nguyên liệu, dược liệu, chế biến tinh dầu, thủ công mỹ nghệ, du lịch sinh thái, văn hóa bản địa và bảo vệ rừng.
Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và khai thác bền vững tài nguyên bản địa, đồng thời gắn liền với định hướng phát triển miền núi của thành phố Đà Nẵng.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, bà Vũ Thị Bích Hậu đề xuất rà soát, cập nhật quy hoạch vùng quế Trà My nhằm bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển miền núi, chương trình dược liệu và OCOP. Thành phố cần chú trọng bảo tồn nguồn gen, chọn tạo giống và ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng.
Đặc biệt, hình thành cơ chế liên kết chuỗi giá trị giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - hợp tác xã - người dân, trong đó người trồng quế phải được hưởng lợi ích tương xứng. Mặt khác, ưu tiên thu hút đầu tư chế biến sâu, xây dựng bộ tiêu chuẩn nhận diện thương hiệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc số nhằm bảo vệ uy tín sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Nguồn: https://baodanang.vn/tu-duy-mo-nang-tam-gia-tri-que-tra-my-3337434.html







Bình luận (0)