San sẻ yêu thương nơi vùng lũ
Ngày 19/11, tôi vẫn nhớ như in sau một đêm hầu như thức trắng vì nước lũ ập đến, khi còn đang ngồi ghi chép những số liệu về thiệt hại mưa, thì bất ngờ nhận được một cuộc gọi cầu cứu. Giọng của người đàn ông bên kia như nghẹn lại: “Chị ơi! Có phải bên cứu nạn không, em ở khu vực Nhơn Bình cũ, vợ em chuyển dạ sinh mà đường vào nhà ngập hết, nhà em cũng ngập cao rồi, em không đưa vợ em đi viện được, chị cứu vợ con em với”.
Cuộc gọi như một hồi trống đánh ầm ầm trong lồng ngực tôi, tôi an ủi anh là hết sức bình tĩnh, tôi sẽ liên hệ ngay chính quyền địa phương và lực lượng cứu hộ.
Ngay sau đó, tôi đã gọi báo cáo tình hình sản phụ cho anh Trần Việt Quang, Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn Đông lúc này đang chỉ huy toàn lực lượng của chính quyền phường tham gia ứng cứu bà con trong khu vực.
Anh Quang cho biết mình sẽ bố trí lực lượng lên ngay sau cuộc gọi, nhưng hiện tại nước ngập sâu và chảy xiết, anh em chưa tiếp cận được nên tôi tiếp tục chờ tin.
Đến buổi chiều cùng ngày, lại số điện thoại ấy gọi cho tôi và may mắn thay tôi đã liên hệ được anh em đội thợ lặn đang cứu hộ gần khu vực đó để đưa sản phụ vào bệnh viện an toàn.
Một câu chuyện nghe qua tưởng chừng rất nhỏ thôi nhưng nó lại là ví dụ điển hình cho muôn vàn hoàn cảnh khó khăn của người Gia Lai trong bão lũ.
Chỉ sau một đêm, cả khu vực rộng lớn đã thành một tấm gương soi trời, mênh mông biển nước, mưa nặng hạt, gió rít từng cơn, đường vào các thôn đã chìm hết vài mét nước. Người dân chạy ngược xuôi, bế con, cõng mẹ, lùa bò, kéo xe… âm thanh hỗn loạn, khẩn trương, đầy lo âu.
Điện cúp, sóng điện thoại chập chờn, nhiều gia đình gọi vào số máy của anh em cứu hộ, có tiếng nói nghẹn ngào: “anh ơi, nước vô nhà rồi, có ai giúp với… nhà em có mẹ già không đi lại được!”.
Tôi hình dung ra những đôi mắt hoảng hốt, những gương mặt thất thần, tôi không còn cảm giác mình là một nhà báo nữa, bản năng thôi thúc tôi phải làm điều gì đó ngay lập tức.
Loay hoay trong mớ suy nghĩ hỗn độn, nhìn qua nhìn lại xung quanh nơi tôi ở cũng chỉ toàn nước và nước, một ý nghĩ táo bạo chợt lóe ra trong đầu tôi: “phải nấu ăn, phải lao vào vùng lũ”. Ngay sau đó, tôi huy động tất cả mọi người, xắn tay vào tận dụng hết những nguyên liệu sẵn có nấu cho “đồng bào” đang bị cô lập một bữa cơm.
Những hộp cơm được nấu bằng những nguyên liệu có sẵn, mưa ngập không có rau, có thể khô khốc như mấy viên gạch, nhưng trong lúc này, đấy là điều thiết thực nhất, tốt nhất có thể làm được, cái ngoài dòng nước kia bà con cần một hộp cơm nóng, một chai nước ấm bụng để vượt qua cơn lũ dữ.
Sau khi xong việc, chúng tôi tiếp tục chất đồ lên xe lao thẳng về vùng lũ...
Trời vẫn mưa, gió vẫn thổi lùa từng cơn tê lạnh, tôi và anh Nhật Trí đồng nghiệp cùng cơ quan vẫn chạy vòng vòng, mua nước tiếp cơm cho bà con. Bàn tay quen cầm bút, gõ bàn phím giờ chuyển sang làm cá, làm thịt, khuấy từng nồi cơm lớn, đóng từng hộp cơm. Chưa bao giờ trong nghề báo, tôi thấy mình gần dân đến vậy.
Tiếng sôi ùng ục của nồi cơm trở thành âm thanh ấm áp nhất giữa mưa gió, mỗi khi mở nắp nồi, hơi nóng tỏa ra khiến đôi tay tê buốt như hồi sinh, miếng cơm trắng, dẻo, nóng hổi – thứ mà bình thường ai cũng quen thuộc – giữa nước lũ trở thành nguồn sống thực sự.
Tôi còn nhớ, khi những hộp cơm nóng đầu tiên được trao tận tay bà con đang đứng co ro trên tầng gác, nhiều người đã bật khóc. Một bác gái hơn 70 tuổi ôm hộp cơm vào ngực như ôm báu vật: “Từ sáng tới giờ cả nhà tui chưa ăn hột cơm nào… Cảm ơn các cô chú nhiều lắm…” Lúc đó, anh em hô to trong sự hạnh phúc: “Còn sức là còn giúp được dân, bác ơi.”
Nghe những câu nói ấy, thật lòng tôi nghẹn đến mức không nhận ra mình đang run.
Ba ngày giữa vùng lũ – cuộc sống của bà con len lỏi trong sự hỗn độn, trong ba ngày nước lũ dâng cao nhất, tôi chứng kiến cảnh anh em cứu hộ ăn ngủ ngay tại chỗ, người trên ghe, người nằm thùng xe, chỗ nào ngả lưng được là tranh thủ nằm chợp mắt, quần áo ướt sũng.
Đến bữa ăn cũng chỉ có mấy gói mì, đôi khi là cơm nguội còn sót lại, nhưng không một ai than vãn, vì nhìn ra ngoài dòng nước mênh mông là những mái nhà chỉ còn thấy phần chóp, là những ánh đèn pin chớp nháy SOS từ xa. Trong thời khắc đó, họ thay phiên trực, có lúc quá nửa đêm có cuộc gọi cầu cứu là anh em lại bật dậy và lao đi. Đội cứu hộ ấy là những chiến sỹ Bộ đội, lực lượng Công an, dân quân tự vệ, lực lượng anh em Báo chí như anh Dũng Nhân của Đài Bình Định cũ, anh Mạnh Hiếu VTCNew, và đông đảo doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh.
Khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thêm thế nào là sức mạnh cộng đồng, thế nào là “nghề báo đi cùng dân”.
Mang theo hy vọng quay lại vùng lũ khi nước rút
Sang ngày thứ tư, trời tạnh, mây xám rã dần, những tia nắng yếu ớt bắt đầu xuyên qua mái nhà ngập bùn, tuy nhiên nước chưa rút hết, nhiều khu vực vẫn chỉ có thể đến bằng thuyền.
Nhận chỉ đạo từ tòa soạn, chúng tôi lập tức tổ chức đợt hỗ trợ thứ hai. Chiếc xe ngày đó thay vì chở cơm chở nước, thì nay chuyển qua chở gạo, chở mì tôm, chở quần áo còn mới được gom từ nhiều nơi. Gom hết tất cả tài sản từ quần áo mới mua để dành chưa mặc; từ tiền mặt đến tiền trong tài khoản cá nhân đến cả mấy cái nhẫn vàng để dành bấy lâu, không suy nghĩ nhiều tôi mang hết đi hỗ trợ khẩn cấp cho từng hộ đặc biệt khó khăn ở các khu vực thiệt hại nặng do bão lũ.
Chúng tôi liên hệ với lãnh đạo từng địa phương, nhờ họ hỗ trợ danh sách các hộ bị thiệt hại để trao tận tay bà con, quần áo thì tôi xếp từng chiếc đóng gói cẩn thận, mì và gạo thì nguyên thùng nguyên bao, tiền mặt thì bỏ bì thư trao đến tận tay cho bà con. Tôi vẫn nhớ chuyến đi cùng chị Hoàng Ngọc Tố Nương, Phó Chủ tịch UBND xã Tuy Phước Tây, đoạn đường vào thôn còn lầy lội, có đoạn cái xe ô tô tôi đi nghiêng một bên như muốn lật
Hình ảnh khiến tôi nhớ nhất là một bé trai đang học lớp 4, đi nhận đồ thay cha mẹ ở xã Canh Vinh. Khi nhận được quà em đứng run run trong thân hình gầy guộc, miệng lẩm bẩm: “Con cảm ơn cô”. Ôm em mà lòng thắt lại, tôi chỉ biết động viên: “Cố gắng nghen con, đừng bỏ học nghen con”. Bạn ấy chỉ cúi đầu rồi im lặng, cái im lặng xé lòng của một đứa bé tuổi còn thơ nhưng đã có nhiều lo lắng.
Chia sẻ với chúng tôi, một bà mẹ già 81 tuổi sống cùng cậu con trai tàn phế hai chân cho biết: Tuy nhà bị sập, nhưng cũng nhờ sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương hỗ trợ nên hai mẹ con cũng đang dần ổn định cuộc sống.
Một lần nữa khoảnh khắc cụ ôm tôi vào lòng và cảm ơn rối rít, những ánh mắt những nụ cười sau bão lũ sao thật đáng trân quý, tôi chỉ biết cố giữ nụ cười, để không làm bà con thêm xúc động.
Chẳng ai quên được những giờ phút chống chọi với dòng nước chực tràn vào cửa, càng không quên cảm giác trống trơn khi mở cửa nhìn lại những gì còn sót lại sau cơn bão. Nhưng sự có mặt kịp thời của các tập thể, cá nhân như chúng tôi, dù là vật chất hay tinh thần cũng đều mang lại điểm tựa ấm áp, giúp bà con thêm vững vàng vượt qua giai đoạn khó khăn sau bão.
Qua trận bão lũ này, tôi càng thêm trân trọng hơn cuộc sống, trân trọng hơn nữa cái nghề Báo có thể viết để giúp đời giúp người và viết bằng trái tim chứ không chỉ bằng cây bút.
Thời gian tác nghiệp vừa qua khác với mọi chuyến đi tôi từng trải nghiệm, nó không chỉ là ghi chép số liệu, phỏng vấn nhân chứng hay phân tích thiệt hại, nó là những đêm không ngủ, là tiếng trẻ con khóc giữa đêm mưa, là nồi cơm nóng giữa gió lạnh, là bàn tay nắm lấy bàn tay trong dòng nước xiết, là sự sẻ chia, đồng cảm, và trách nhiệm của người làm báo với cộng đồng, và hơn hết, nó để lại trong tôi một bài học lớn: Làm báo không chỉ để đưa tin, mà là để được hiện diện ngay nơi người dân cần nhất.
Đôi khi, một phần cơm nóng trao tay còn quan trọng hơn một bài viết đăng trang nhất. Để rồi khi rời đi, tôi hiểu rằng: Giữa vùng nước lũ mênh mông, thứ cứu người dân không chỉ là những gói quà cứu trợ…mà còn là hơi ấm của tình người – từ những nồi cơm mà chúng tôi được hạnh phúc góp một phần nhỏ bé.
Nguồn: https://baophapluat.vn/viet-bang-trai-tim-giua-nhung-ngay-lu-du-gia-lai.html






Bình luận (0)