Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu không sớm tháo gỡ các rào cản về cơ chế tài chính, đầu tư, thử nghiệm công nghệ mới, sẽ khó tạo ra các sản phẩm công nghệ có khả năng cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
Nhận diện những điểm nghẽn
Khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường hiện vẫn là điểm nghẽn lớn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước hiện chỉ khoảng 5%, trong khi khoảng 37% kết quả nghiên cứu đã sẵn sàng chuyển giao nhưng chưa thể đưa vào thực tiễn do vướng cơ chế định giá tài sản trí tuệ, thủ tục giao quyền sở hữu, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu và thiếu nguồn vốn cho giai đoạn hoàn thiện sản phẩm.
Nhiều trường đại học lớn như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hay Đại học Bách khoa Hà Nội thời gian qua cũng liên tục đề xuất mở rộng cơ chế tự chủ nghiên cứu, tăng quyền chủ động trong hợp tác doanh nghiệp và phát triển mô hình doanh nghiệp spin-off nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
“Có những nhóm nghiên cứu làm được công nghệ khá tốt nhưng lại gặp khó trong việc mua thiết bị, thử nghiệm sản phẩm hoặc kết nối doanh nghiệp để thương mại hóa. Nếu cơ chế chưa thay đổi thì rất khó hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng cạnh tranh thực sự”, giảng viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Lê Xuân Mạnh nhận định.
Theo ông Lê Xuân Mạnh, một trong những điểm nghẽn hiện nay là cơ chế quản lý nghiên cứu vẫn thiên về hạn chế rủi ro hơn là khuyến khích sáng tạo. Trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn hay công nghệ lượng tử, không phải dự án nào cũng thành công ngay từ đầu, thậm chí tỷ lệ thất bại có thể rất cao. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động nghiên cứu đều đặt nặng yêu cầu an toàn tuyệt đối và trách nhiệm giải trình theo quy trình hành chính truyền thống thì các nhóm nghiên cứu sẽ khó dám thử nghiệm những hướng đi mới có tính đột phá. Do đó, cần cho phép các đơn vị nghiên cứu được thử nghiệm nhanh hơn, linh hoạt hơn và được quyền chấp nhận thất bại trong nghiên cứu.
Là trường đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia, Đại học Quốc gia Hà Nội đang chuyển mạnh sang mô hình nghiên cứu gắn với nhu cầu doanh nghiệp và các bài toán thực tiễn. Đơn vị đã thay đổi cách tiếp cận từ nghiên cứu phân tán sang nghiên cứu theo chương trình và cụm nhiệm vụ liên ngành. Hiện Đại học Quốc gia Hà Nội đã xây dựng các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp chiến lược như: Vi mạch bán dẫn, Quantum, AI4SD cùng 16 chương trình nghiên cứu trọng điểm tập trung vào các lĩnh vực AI, chíp bán dẫn, robot - tự động hóa, UAV, công nghệ lượng tử, an ninh mạng và công nghệ y sinh.
Song song với đó, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện có 50 nhóm nghiên cứu mạnh, nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm và hệ thống hạ tầng nghiên cứu quy mô lớn tại Hòa Lạc dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Không chỉ dừng ở nghiên cứu lý thuyết, nhiều dự án đã được xác định rõ đầu ra và khả năng ứng dụng thực tiễn. Trong lĩnh vực bán dẫn, Đại học Quốc gia Hà Nội đang phát triển lõi IP vi xử lý mã nguồn mở RISC-V công suất thấp cho thiết bị IoT và Edge AI, dự kiến hoàn thành trong năm 2026...
Thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược ra sao?
Thực tế quá trình triển khai thực tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, để thương mại hóa thành công các sản phẩm công nghệ chiến lược cần tháo gỡ một số điểm nghẽn về cơ chế như: Cần cho phép triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược theo cơ chế đầu tư trung hạn, giải ngân theo giai đoạn, nhu cầu kinh phí thay vì từng năm, với quy mô đủ lớn và đánh giá theo kết quả đầu ra. Có hướng dẫn cụ thể cho việc lập kế hoạch ngân sách cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo danh mục nhiệm vụ, nhu cầu và năng lực nghiên cứu, khả năng tạo ra sản phẩm cuối cùng, thay vì kiểm soát đầu vào, thủ tục thẩm định phức tạp. Cùng với đó, cần có chính sách đột phá về phát triển nguồn nhân lực công nghệ chiến lược, đặc biệt là cơ chế học bổng nghiên cứu sinh toàn thời gian, cơ chế luân chuyển nhà khoa học giữa trường đại học và doanh nghiệp, cũng như thu hút chuyên gia quốc tế tham gia đồng hướng dẫn và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu.
Đáng chú ý, đại diện Đại học Quốc gia Hà Nội cũng kiến nghị cho phép triển khai cơ chế “sandbox” tại Hòa Lạc đối với các công nghệ mới như: AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, UAV hay công nghệ lượng tử nhằm tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu được thử nghiệm nhanh, đánh giá nhanh và sớm đưa sản phẩm vào thực tế.
Trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu hiện nay, lợi thế không chỉ nằm ở ý tưởng hay nhân lực mà còn phụ thuộc rất lớn vào tốc độ đổi mới và khả năng thương mại hóa sản phẩm. Nếu các nút thắt về cơ chế được tháo gỡ kịp thời, các trường đại học và viện nghiên cứu sẽ có thêm điều kiện để tham gia sâu hơn vào quá trình làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh quốc gia.
Nguồn: https://hanoimoi.vn/go-rao-can-co-che-de-lam-chu-cong-nghe-chien-luoc-1015273.html









Bình luận (0)