Tương truyền, nguồn gốc ca trù có từ đời nhà Lý và làng Lỗ Khê (Hà Nội) được coi là cái nôi ca trù Việt Nam. Thoạt đầu ca trù có lối hát như chèo thường được biểu diễn phục vụ lễ hội cúng tế ở chốn đình trung. Về sau, việc tế lễ ở đình làng mai một, người ta mang ca trù vào trong nhà và lối hát này trở thành thể loại thính phòng. Hát ca trù trở thành thú chơi thanh nhã của ông cha ta.
Người xưa có mấy lối hát và cách thức trình diễn ở các không gian khác nhau, như hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (hát cung đình), hát tại gia (hát nhà tơ), hát thi và hát ca quán (hát chơi). Ở Hải Phòng từ xưa cũng có các giáo phường ca trù. Các giáo phường này có tổ chức chặt chẽ, từ các ứng xử với khách nghe và các phường khác. Làng Đông Môn (xã Hòa Bình - Thủy Nguyên ) là một trong những cái nôi ca trù lâu đời nhất . Nơi đây có Phủ từ thờ Tổ nghề. Người ngoài giáo phường chỉ nghe lỏm mà biết hát, có hành nghề cũng chỉ được coi là "đào ngang”. Người được đào tạo bài bản mới được gọi là "đào nương". Các giáo phường đều thờ chung một vị tổ nghề. Tương truyền đó là Mãn Đường Hoa công chúa, quê ở Thanh Hoá, người sáng tạo và truyền bá ca trù. Sau ca trù được bổ sung, hoàn thiện thành một loại hình nghệ thuật độc đáo không thể lẫn với nghệ thuật khác.
Ca từ của ca trù là những vần thơ giàu nhạc điệu và chan chứa tình cảm của người yêu cuộc sống, tài hoa. Soạn giả ca trù ngày xưa thường là văn nhân, các thi sĩ hoặc quan viên tính tình phóng khoáng: ví như Tản Đà, tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh... Đây đều là những tên tuổi từng nổi danh với nhiều giai thoại. Nội dung ca trù phong phú ca ngợi tình yêu, nhân phẩm tài hoa sâu sắc của người phụ nữ. Cũng có khi là tả nỗi niềm thế sự, cảnh đẹp của nước biếc non xanh…
Một màn hát ca trù thường có ba người: Người hát, người đệm đàn đáy và người cầm trống chầu. Người hát, còn gọi là "đào hát" hay "đào nương". Đào nương ngoài vẻ đẹp trời phú còn là người được đào tạo trong giáo phường như nói ở trên, khi hát phải trang phục lịch lãm, đoan trang. Quần lĩnh, áo đoạn hoa, khăn nhung, tóc đuôi gà, các đào nương chỉ nhìn thẳng, không đánh mắt, cợt nhả với quan khách nghe hát. Cũng không được tự tiện nhận tiền thưởng của khách. Họ chinh phục người nghe bằng âm thanh, nhả chữ buông lời, hút hồn khách bằng nghệ thuật thanh nhạc.
Một tài liệu từng mô tả chân dung đào nương thế này:
Mặt tròn như nguyệt, mắt sắc như dao cau
Vào, duyên phong nhã. Ra, duyên hồng lâu
Lời ấy gấm, miệng ấy thêu, dịu như mai, trong như tuyết
Nét phong lưu chi kém bạn Vân Kiều…
Đào nương phải có bản lĩnh trong khi trình diễn nghệ thuật, bởi đối tượng nghe phần đông là các khách thuộc bậc thượng lưu, các quan địa phương ra tỉnh hoặc về Hà Nội công cán, chứ không mấy có thường dân. Cũng vì thế mà có khách nghe cũng phong lưu cầm trống chầu, hoà nhịp theo đào nương và kép đàn.
Để có màn hát hay, đào nương đã khổ công luyện giọng, khi buông lời phải tròn vành rõ chữ, hơi ngân phải rung đổ hột, thì kép đàn cũng gian nan luyện tập không kém. Anh kép đàn phải ngọt, hoà tấu ăn ý, lại bay bổng. Trong dàn đệm còn có cổ phách và trống chằn. Người cầm chầu không phân biệt giai tầng xã hội, mà căn bản là sành điệu. Phải biết phân biệt được khổ trống, làn điệu đâu là lạc nhạn, phi nhạn đâu là thuỷ châu, tranh triện hay hạ mã. Người cầm chầu không được đánh trống lấp đi tiếng hát, như thế trong nghề cho là đánh vào miệng ca nương. Ngồi vào chiếu cầm chầu, quan viên phải gõ đúng nhịp, phách, trống. Khi thì một tiếng khoan nhặt, khi thì ba, năm tiếng dập dồn, có khi chín tiếng rộn ràng. Đến khi tới cao trào rộn rã, tiếng phách, tiếng đàn ăn nhịp với nhau, quan viên cao hứng, đào nương trổ tài thì đúng là tri âm hội ngộ. Không khí hát ca trù lọt vào thế giới huyền ảo chỉ còn có sự tao nhã thiêng liêng, trong vắt chất liệu nhân văn.
Một bài ca trù mẫu mực thường có ba đoạn gọi là ba khổ. Hai khổ đầu mỗi khổ bốn câu, khổ thứ ba có ba câu. Nếu bài nào chỉ có khổ đầu và cuối, thiếu khổ giữa thì gọi là thiếu khổ. Trái lại có bài hơn ba khổ gọi là dôi khổ. Số chữ trong mỗi câu ca trù không hạn định, nhưng thông thường mỗi câu có bảy tám chữ, có trường hợp một câu chỉ có ba bốn chữ, cũng có khi một câu kéo dài đến mười ba mười bốn chữ. Đặc biệt câu kết bao giờ cũng chỉ có sáu chữ để phù hợp với nhịp phách.
Vần trong ca trù cũng rất phong phú, đủ vần lưng và vần chân, vần trắc và vần bằng, nhưng phần nhiều là vần chân liền nhau từng đôi một. Âm hưởng của ca trù còn do ảnh hưởng của sự kết hợp các từ thanh bằng thanh trắc xen kẽ nhau, tạo thành giai điệu êm dịu bổng trầm mà đài các. Ngoài ra cũng có bài người ta cho mở đầu bằng mấy câu thơ lục bát gọi là "mưỡu đầu", và kết thúc cho hai câu lục bát gọi là "mưỡu hậu".
Trải nhiều biến đổi, thăng trầm, thành phố Hải Phòng hiện nay vẫn duy trì được câu lạc bộ hát ca trù sinh hoạt đều đặn. Thành phố nhiều lần tổ chức Liên hoan hát ca trù mở rộng, có sự tham gia của nhiều địa phương như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình… Năm 2025, thành phố phát động cuộc thi viết lời mới thể loại hát văn và hát ca trù , có trao giải. Tác giả bài viết này từng có tác phẩm "Côn Sơn lãng đãng chiều xuân" từng được giải tại liên hoan. Trong đó có đoạn nội dung như thế này: "Miên man gió hát thông reo/ Chuông ngân bờ trúc, ráng chiều Côn Sơn/ Thạch Bàn, ẩm ướt hơi sương/ Bập bùng sim tím, tỏa hương non ngàn….”
Hát ca trù được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể nhân loại cần được giữ gìn, bảo vệ khẩn cấp. Đó là một viên ngọc quý báu trong kho tàng văn hóa dân gian nước nhà.
KHÚC HÀ LINHNguồn: https://baohaiphong.vn/lang-dang-giai-dieu-ca-tru-538392.html






Bình luận (0)