Thực tế, ngoài ca dao tục ngữ và nguồn thơ võ học khuyết danh bằng chữ Hán hoặc Nôm thường thấy ở các bài thiệu, phú… dành cho một số thế võ cổ truyền, không nhiều bài thơ viết trực tiếp về đề tài võ thuật. Riêng Nguyễn Thanh Mừng đã chi chút tạo tác những bài thơ với cảm hứng đắm đuối từ võ thuật cổ truyền dân tộc.
Chất liệu, không gian tinh thần võ thuật lần lượt ngân lên ở nhiều chiều kích trong hành trình sáng tạo của thơ Nguyễn Thanh Mừng. Cái từ “võ sư” rất quen thuộc với đất võ Bình Định nhưng chưa quen thuộc với thơ ca nhiều lắm, ông đưa vào thơ rất “mướt” qua bài “Võ sư đãi cơm chay”: Khi nhà võ mến nhà văn/ Văn chương khoái hoạt cân bằng võ công/ Nụ cười chén đũa huyền đồng/ Bóng mây xe cỏ rung mồng áo tơi.
Những “quyền, tấn, côn, kiếm” khá xa lạ trong thơ nhiều tác giả, đã được Nguyễn Thanh Mừng sử dụng một cách nhi nhiên, bén ngọt. Đọc bài thơ “Đất võ” của ông, tôi như nghe âm vang huyền tích binh đao xứ sở, lại lãng mạn khẩu khí kiếm hiệp kỳ tình: Là nơi đền tháp ngựa voi/ Có người con gái bỏ roi đi quyền/ Bỏ roi gieo lúm đồng tiền/ Đi quyền thảo một hư huyền nước mây. Này nữa: Bạn đùa: rõ mặt nhớ tên/ Ra đường thì né khỏi phiền lụy chi/ Hỡi em đả hổ song phi/ Đại bàng tung cánh tề mi côn chuyền (Đưa bạn văn xem gái Bình Định múa võ).
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng |
Trong trường ca “Khởi hành cùng ba mươi chín mùa xuân”, Nguyễn Thanh Mừng dữ dội: Kiếm tuốt khỏi bao bút rút khỏi nghiên/ Bài thơ cuộc đời vụt đến/ Mưa trên bành đàn voi trận uy nghiêm/ Gió tung bờm ngựa chiến/ Cơm lam trong ống giang/ Rượu thề trong lửa bén/ Ngôn ngữ mang số phận con người cập bến tương lai/ Trời ơi gánh gánh mồ hôi/ Xe xe nước mắt gùi gùi máu tươi/ Kìn kìn bão dập lũ vùi/ Bàn tay luyện đá vá trời dọc ngang...
Là nhà thơ quê quán đất võ, cái lối dùng phương ngữ đắc địa của Nguyễn Thanh Mừng cũng góp phần củng cố cấu tứ thơ về “võ thuật”: Thế đòn sấm sét cuồng phong/ Cách vời nhịp thở nâu sồng bao xa/ Sông Côn núi Kiếm hào hoa/ Rau dưa bung lụa thả ga đãi đằng (Võ sư đãi cơm chay)…
Cùng với thi ca, Nguyễn Thanh Mừng còn là cây bút khảo cứu có tầm. Các bài nghiên cứu lịch sử văn hóa về đề tài võ thuật xuất hiện tương đối nhịp nhàng trong các biên khảo: “Đất võ trời văn”, “Sông Côn núi Kiếm”, “Cảo thơm làng võ”, “Quang Trung - Nguyễn Huệ bản lĩnh văn hóa Việt”, “Cảm thương chàng Lía”, "Đất võ trời văn - Từ nguồn cao đến biển rộng"… Một số bài đã tập hợp trong cuốn “Huyền tích Kinh xưa - Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế”, một số trong cuốn “Văn hóa dân gian miền đất võ”…
Điều thú vị là bên cạnh những bài biên khảo, ta nhận ra dấu chân người nghiên cứu trên từng cung đường thực tế khắp nơi. Nhiều bài viết thể hiện góc nhìn lịch đại của một xứ sở bây giờ xuyên suốt từ đại ngàn đến đại dương, lưu danh nhiều giá trị văn hóa đặc trưng và phổ quát. Để hình thành những con chữ nhiệt tâm đúc kết ấy, Nguyễn Thanh Mừng từng đặt nhiều bước chân du khảo, trên từng centimet di chỉ, đam mê và mẫn tiệp, tài hoa và gió bụi, từ tuổi hoa niên đến U70 bây giờ. Lúc này, anh vẫn dành thời gian riêng cho những vòng bánh xe máy, cơm nắm muối vừng và ghi chép, thu âm thực địa những góc bể chân trời đất đai quê nhà.
Từ những tác phẩm đầy sức lan tỏa của mình, Nguyễn Thanh Mừng đã phát tạo nên những slogan địa danh văn hóa được sử dụng rộng rãi, như “Đất võ trời văn”, “Sông Côn núi Kiếm”… Nhắc đến “Đất võ trời văn”, nhiều người biết ngay là nói về vùng đất Bình Định (cũ). Còn cụm từ đăng đối “Sông Côn núi Kiếm”, là con sông có thật và ngọn núi có thật ở Tây Sơn, lần đầu tiên được tác giả phát hiện gọi tên.
| Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng sinh năm 1960 tại Hoài Ân, Bình Định (nay là Gia Lai). Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Tác phẩm đã xuất bản: Rượu đắng (thơ), Ngàn xưa (thơ), Khởi hành cùng ba mươi chín mùa xuân (trường ca), Bích Khê - Tinh hoa và tinh huyết (biên khảo), Huyền tích Kinh xưa - Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng Đế (biên khảo, viết chung với Trần Thị Huyền Trang)… |
Đào Đức Tuấn
Nguồn: https://baodaklak.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoa/202604/trong-tho-co-vo-78e455b/







Bình luận (0)