1. Chỉ số PCI
Chỉ số PCI năm 2025 không công bố điểm tổng số và xếp hạng các tỉnh từ cao xuống thấp, mà công bố danh sách theo thứ tự ABC của hai nhóm Tốt, Khá, các tỉnh không đưa vào danh sách thuộc nhóm Khác (Trung bình và Tương đối thấp và Thấp). Không có tỉnh nào thuộc nhóm Rất tốt.
Điểm trung vị PCI của các tỉnh là 63,90 (tối đa là 100 điểm). Mức thấp nhất là 55,63 điểm và cao nhất là 69,72 điểm. Biên độ hơn 14 điểm cho thấy chênh lệch về chất lượng điều hành là khá rõ, song phần lớn địa phương vẫn tập trung quanh dải điểm trung bình-khá thay vì tách thành các cực quá xa nhau (Điểm trung vị các chỉ số thành phần xem ở tiểu mục 3.2, mục 3 tiếp theo).
Nhóm Tốt dẫn đầu gồm 5 tỉnh là Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Quảng Ninh.
Bắc Ninh nổi bật nhất ở khả năng tạo thuận lợi trong tương tác hành chính và duy trì vai trò kiến tạo của chính quyền. Đà Nẵng thuộc tốp dẫn đầu nhiều chỉ số thành phần, nhất là về tính minh bạch. Hải Phòng thuộc nhóm nhiều năm dẫn đầu cả nước về điểm PCI tổng hợp, thể hiện rõ nhất lợi thế điều hành cân bằng trên diện rộng. Phú Thọ nổi bật nhất ở khả năng khai mở nguồn lực cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp và chi phí không chính thức. Quảng Ninh tiếp tục hiện diện trong nhóm “Tốt” nhờ duy trì ưu thế năng lực điều hành chủ động, duy trì niềm tin thể chế cho doanh nghiệp.
Nhóm Khá gồm 13 tỉnh: An Giang, Đồng Nai, Gia Lai, Huế, Hưng Yên, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Lào Cai, Lâm Đồng, Ninh Bình, Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Tuyên Quang.
Nhóm khác gồm 16 tỉnh (10 Trung bình, 6 Tương đối thấp, 1 Thấp)
2. Chỉ số BPI
Năm nay, đồng thời với Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), lần đầu tiên VCCI thí điểm và công bố Chỉ số hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân (BPI). BPI gồm 23 chỉ số thành phần đo lường về sự phát triển và năng lực đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân.
Điểm trung vị BPI năm 2025 là 4,2 (điểm tối đa là 10) với điểm phát triển 4,46 và điểm đổi mới sáng tạo 4,17. BPI cao nhất là 5,67 và thấp nhất là 3,26. Có 9 tỉnh BPI dưới 4 điểm; 18 tỉnh 4-5 điểm; 7 tỉnh 5 điểm trở lên.
Chỉ số BPI không xếp hạng cụ thể các tỉnh theo nhóm và thứ tự từ cao xuống thấp, nhưng công bố 3 địa phương dẫn đầu với các mặt nổi bật như sau:
TP Hồ chí Minh có BPI đạt 5,67, điểm phát triển 5,19; điểm đổi mới sáng tạo 6,15; Mật độ đạt 4,33 doanh nghiệp tư nhân thành lập mới và 23,75 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1.000 dân. Tỷ lệ số doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng với doanh nghiệp nước ngoài đạt gần 8%. Tỷ lệ số doanh nghiệp có bộ phận phụ trách nghiên cứu và phát triển (R&D) gần 11%. Hà Nội có BPI đạt 5,41, điểm phát triển 4,84; điểm đổi mới sáng tạo 5,98. Mật độ doanh nghiệp mới và doanh nghiệp đang hoạt động đạt lần lượt 3,70 và 22,22 doanh nghiệp trên 1.000 dân. Tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận R&D đạt 12,5%. Quảng Ninh có BPI đạt 5,33, điểm phát triển 5,22, điểm đổi mới sáng tạo 5,45. Tỷ lệ doanh nghiệp báo lãi dẫn đầu, đạt 72,1%. Tỷ lệ doanh nghiệp có liên kết chuỗi với doanh nghiệp trong cả nước đạt 68,20%.
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 2 tỉnh dưới 4 điểm BPI, còn lại đều trên 4 điểm, không có tỉnh nào từ 5 điểm trở lên.
3. PCI và BPI của Sơn La trong mặt bằng chung của Vùng và cả nước
Năm 2025, PCI cả nước có 5 tỉnh thuộc nhóm Tốt, 13 tỉnh nhóm Khá, 16 tỉnh nhóm Khác (10 tỉnh Trung bình, 5 tỉnh Tương đối thấp và 1 tỉnh Thấp). Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 1 tỉnh nhóm Tốt ( Phú Thọ), 4 tỉnh thuộc nhóm Khá (Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang) và 4 tỉnh thuộc nhóm Khác (3 tỉnh Trung bình, 1 tỉnh Tương đối thấp)
3.1.Chỉ số kinh tế, doanh nghiệp và PCI của Sơn La
Các thông số chính năm 2025 của Sơn La: Tăng trưởng kinh tế 8.03%. Số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới/1000 dân đạt 0,65 doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh 2 năm tới ở mức 27,12%. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi 53,33%. Chất lượng điều hành thuộc nhóm dưới Khá, chính xác là Trung bình. Điểm PCI thấp hơn trung vị cả nước 2,39 điểm, thấp hơn trung vị Vùng Trung du và miền núi phía Bắc 2,34 điểm.
3.2. Các chỉ số thành phần PCI
|
Chỉ số thành phần |
Điểm số Sơn La |
Trung vị Vùng |
Trung vị cả nước |
Thấp nhất cả nước |
Cao nhất cả nước |
|
1- Gia nhập thị trường |
7,37 |
6,99 |
7,07 |
5,28 |
8,70 |
|
2-Tiếp cận nguồn lực |
6,40 |
6,12 |
6,05 |
4,07 |
6,69 |
|
3- Tính minh bạch |
5,83 |
6,91 |
6,93 |
5,33 |
7,78 |
|
4- Chi phí tuân thủ TTHC |
6,81 |
6,91 |
7,31 |
5,93 |
8,93 |
|
5- Chi phí không chính thức |
7,80 |
7,67 |
7,60 |
6,01 |
8,32 |
|
6- Cạnh tranh bình đẳng |
4,91 |
5,56 |
5,51 |
4,90 |
7,75 |
|
7- Chính sách hỗ trợ DN |
5,72 |
5,40 |
5,43 |
4,37 |
6,87 |
|
8- Thiết chế pháp lý |
6,91 |
7,27 |
7,29 |
6,01 |
7,94 |
|
9- Chính quyền kiến tạo |
5,24 |
5,50 |
5,46 |
2,78 |
6,67 |
Tỉnh Sơn La có 4 chỉ số thành phần (Gia nhập thị trường, Tiếp cận nguồn lực, Chi phí không chính thức, Chính sách hỗ trợ doanh nghiêp) cao hơn trung vị Vùng Trung du và miền núi phía Bắc và trung vị cả nước, còn 5 chỉ số thấp hơn (Tính minh bạch, Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, Cạnh tranh bình đẳng, Thiết chế pháp lý, Chính quyền kiến tạo).
3.3. Chỉ số hiệu quả kinh tế tư nhân(BPI)
|
Chỉ số và Chỉ số thành phần |
Tỉnh Sơn La |
Trung vị vùng |
Trung vị cả nước |
Thấp nhất cả nước |
Cao nhất cả nước |
|
Chỉ số BPI |
3,49 |
4,02 |
4,20 |
3,26 |
5,67 |
|
Phát triển khu vực tư nhân |
3,49 |
3,94 |
4,46 |
3,31 |
5,48 |
|
Đổi mới sáng tạo |
3,48 |
4,44 |
4,17 |
2,81 |
6,15 |
Nguồn số liệu các bảng số là theo PCI và BPI năm 2025, vcivietnam.vn
Chỉ số BPI và hai chỉ số thành phần (phát triển khu vực tư nhân và đổi mới sáng tạo) của tỉnh Sơn La đều thấp hơn so với trung vị Vùng Trung du và miền núi phía Bắc và trung vị cả nước, cao hơn mức thấp nhất cả nước 0,2-0,7 điểm, thấp hơn mức cao nhất cả nước 2,0-2,6 điểm.
4. Khuyến nghị của VCCI
Sau một năm thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW, khu vực tư nhân đang phục hồi mạnh. Đến cuối năm 2025, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,6% so với năm trước. Ngoài ra, số doanh nghiệp gia nhập thị trường trong năm đạt mức kỷ lục 297.500 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm 2024. Có tới 85,7% doanh nghiệp cho biết đang duy trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động. Có tới 85,7% doanh nghiệp đang duy trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động. Cùng với khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân hiện tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động, tương đương hơn 50% tổng việc làm của cả nước.
Nhưng khu vực kinh tế tư nhân vẫn đối mặt một số điểm nghẽn về vốn, thị trường và minh bạch chính sách. Khó khăn lớn nhất hiện nay là thị trường đầu ra khi 60,2% doanh nghiệp cho biết gặp trở ngại trong tìm kiếm khách hàng. Con số này tăng mạnh so với mức 45,3% của năm 2024 và 41% của năm 2022. Tiếp cận vốn tiếp tục là bài toán nan giải. Có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm. Khả năng dự báo chính sách của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Chỉ khoảng 6-8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự đoán thay đổi chính sách, còn 51,9% phải dựa vào mạng xã hội để tiếp cận thông tin dự thảo văn bản. Về chi phí không chính thức, khoảng 26% doanh nghiệp phát sinh chi phí ngoài quy định khi xin giấy phép kinh doanh, cao gần gấp ba mức trung bình của khu vực.
Ngoài ra, khu vực hộ kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng với an sinh xã hội và việc làm. Dù nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn, giảm doanh thu trong giai đoạn vừa qua, song vẫn có hơn 60% hộ giữ nguyên quy mô hoạt động. Vì vậy, nhà nước cần có thêm chính sách hỗ trợ khu vực này phát triển song hành với doanh nghiệp lớn và khu vực FDI.
VCCI khuyến nghị Trung ương và các địa phương cần quan tâm tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, thị trường và minh bạch chính sách nối trên, có đề xuất hướng giải quyết cụ thể. Đặc biệt nhấn mạnh: (1) Trọng tâm cải cách cấp tỉnh cần dịch chuyển từ mục tiêu “làm thủ tục nhanh hơn” sang mục tiêu làm thị trường công bằng hơn, hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn và điều hành chủ động hơn. (2) Cần sử dụng dữ liệu PCI và BPI để xây dựng chiến lược cải cách đặc thù cho từng địa phương. Các địa phương thuộc nhóm Khá và Trung bình cần tập trung giải quyết các điểm nghẽn mang tính hệ thống như Tiếp cận nguồn lực và Tính minh bạch, các địa phương nhóm Tốt cần thử nghiệm các không gian chính sách mới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. (3) Cần gắn đo lường năng lực điều hành với đánh giá sức khỏe thực chất của khu vực kinh tế tư nhân, khuyến khích, thúc đẩy mạnh hơn để cải thiện mặt bằng đổi mới sáng tạo, đầu tư R&D và khả năng liên kết chuỗi của doanh nghiệp tư nhân, chuyển hóa một môi trường kinh doanh thuận lợi thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và sức bền thực sự của doanh nghiệp tư nhân.
Phan Đức Ngữ
Nguồn: https://sonla.dcs.vn/tin-tuc-su-kien/noi-dung/pci-va-bpi-nam-2025-7975.html






Коментар (0)