Không gian phát triển mới cho kinh tế số
Việc hợp nhất ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình thành một tỉnh Ninh Bình mới được đánh giá là bước cải cách thể chế có tính chiến lược. Quá trình này tạo ra một không gian phát triển kinh tế xã hội rộng hơn, với quy mô dân cư lớn, hạ tầng được kết nối tốt hơn và khả năng bổ trợ lẫn nhau giữa các vùng.
Anh Đinh Văn Hợp, Chủ trang trại dưa lưới ở thôn 3, xã Phú Long (Nho Quan) quảng bá bán sản phẩm dưa trên mạng xã hội.
GS.TS Trần Thọ Đạt (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhìn nhận: "Kinh tế số chính là trụ cột chiến lược để tỉnh Ninh Bình mới bứt phá phát triển trong thời kỳ mới. Việc hợp nhất ba tỉnh tạo ra quy mô và sức mạnh tổng hợp chưa từng có, nhưng thành công hay không phụ thuộc vào việc tỉnh có xây dựng được một hệ sinh thái số toàn diện, đồng bộ và hiệu quả hay không".
Những con số thống kê cho thấy bức tranh chuyển dịch rõ rệt. Giai đoạn 2020-2024, Hà Nam duy trì tăng trưởng GRDP trên 10% mỗi năm, tỷ trọng kinh tế số đạt 13,68%, cao hơn mức trung bình cả nước. Ninh Bình phục hồi mạnh sau đại dịch với GRDP tăng 8,56% vào năm 2024, nhưng tỷ trọng kinh tế số mới đạt 9,09%. Nam Định ổn định song tỷ trọng kinh tế số mới khoảng 6,37%. Hợp nhất ba địa phương có nghĩa là phải tính lại toàn bộ cấu trúc phát triển, song cũng mở ra cơ hội để tái thiết kế chiến lược kinh tế số trên nền tảng quy mô lớn hơn.
Lợi thế lớn nhất là thị trường nội vùng đủ rộng, tạo sức hút cho doanh nghiệp công nghệ, thương mại điện tử, logistics thông minh và các dịch vụ số.
Tối ưu hóa thế mạnh từng vùng trong một hệ sinh thái chung
Trước khi sáp nhập, mỗi tỉnh đều sở hữu những lợi thế riêng gắn với kinh tế số. Hà Nam là điểm đến của nhiều dự án công nghiệp công nghệ cao, logistics, với hệ thống khu công nghiệp hiện đại và hạ tầng giao thông kết nối trục Bắc Nam. Nam Định là trung tâm đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực, có tiềm năng phát triển phần mềm, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ số. Ninh Bình có lợi thế về du lịch di sản, dịch vụ với khả năng phát triển mạnh du lịch thông minh và các nền tảng dịch vụ trực tuyến phục vụ du khách.
Theo lãnh đạo Sở KH&CN tỉnh Ninh Bình, sau hợp nhất, địa phương có thể phát triển theo mô hình "kinh tế số phân cực chức năng", mỗi khu vực đảm nhận một vai trò, nhưng kết nối chặt chẽ qua hạ tầng dữ liệu liên thông toàn tỉnh. Hệ sinh thái này, nếu vận hành tốt, sẽ giúp giảm chi phí, tăng tốc độ xử lý công việc, nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực thu hút đầu tư.
Một trong những hướng đi được xác định là xây dựng kho dữ liệu mở quy mô tỉnh, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, giáo dục, y tế… Đây sẽ là nền tảng cho các mô hình "đa trung tâm – một nền tảng", "chính quyền số cấp tỉnh", "dịch vụ công không giấy tờ, không tiếp xúc, không trễ hẹn" vận hành trơn tru.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Ninh Bình, Hà Nam đã bắt đầu sử dụng phần mềm kế toán điện tử, hóa đơn điện tử, triển khai mã QR truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm OCOP, nông sản đặc sản, đưa hàng lên sàn thương mại điện tử. Dù chưa đồng loạt, nhưng những bước đi này cho thấy tư duy sản xuất, kinh doanh đang chuyển dần từ truyền thống sang dựa trên dữ liệu và nền tảng số.
Dây chuyền sản xuất và lắp ráp của Nhà máy ô tô Hyundai Thành Công, KCN Gián Khẩu.
Du lịch, một trong những ngành kinh tế mũi nhọn cũng đứng trước cơ hội trở thành du lịch thông minh, từ đặt dịch vụ, thanh toán, tra cứu thông tin, đến quảng bá hình ảnh, trải nghiệm thực tế ảo về các điểm đến.
Nông dân trên hành trình trở thành "công dân số"
Ninh Bình đã và đang có những mô hình cho thấy nông nghiệp có thể trở thành một cấu phần quan trọng của kinh tế số nếu biết tận dụng công nghệ.
Anh Đinh Văn Hợp, chủ trang trại dưa lưới vàng ở xã Phú Long trong suốt 7 năm kiên trì theo đuổi mô hình trồng dưa công nghệ cao đã đầu tư hệ thống nhà màng, tưới nhỏ giọt, cảm biến theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, kết hợp phần mềm quản lý trang trại. Nhờ đó, anh kiểm soát được chất lượng, giảm rủi ro, tăng năng suất và tạo việc làm cho lao động địa phương, thu về gần 1 tỷ đồng mỗi năm.
Trang trại còn quảng bá và bán sản phẩm chủ yếu qua mạng xã hội. Mỗi đợt thu hoạch, thông tin về sản phẩm, quy trình chăm sóc, chứng nhận chất lượng được cập nhật đều, giúp người mua yên tâm, hàng hóa tiêu thụ nhanh hơn.
Tại xã Yên Sơn (thành phố Tam Điệp), anh Đoàn Văn Ba, Chi hội trưởng Chi hội nghề nghiệp trồng và chế biến tinh bột sắn dây an toàn chọn dán tem truy xuất nguồn gốc, kết hợp bán hàng trực tuyến cho sản phẩm sắn dây của địa phương. Không chỉ tiêu thụ sản phẩm gia đình, anh còn thu mua sắn của nông dân trong xã về chế biến, mỗi năm bán khoảng 17 tấn bột sắn dây, thu lãi trên 300 triệu đồng.
Toàn tỉnh hiện có 348 hợp tác xã (trong đó 212 HTX dịch vụ nông nghiệp, 136 HTX chuyên ngành) và 323 tổ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp. Một số đơn vị đã liên kết chế biến, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Tuy vậy, số mô hình nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa nhiều, không ít hợp tác xã chưa chủ động tiếp cận nền tảng số, chưa gắn chuyển đổi số với chiến lược phát triển dài hạn.
Chính sách và hạ tầng cho nông nghiệp số
Nhận rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số, tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, chính sách đặc thù để hỗ trợ nông nghiệp. Bên cạnh các chủ trương từ Trung ương, Ninh Bình ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, triển khai Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2021-2025.
Đến nay, 100% huyện, thành phố đã kiện toàn bộ máy, tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP theo quy định. Nghị quyết số 32/2022/NQ-HĐND ngày 15/7/2022 của HĐND tỉnh quy định mức hỗ trợ cho sản phẩm OCOP xếp hạng 3 sao là 75 triệu đồng/sản phẩm, 4 sao là 85 triệu đồng, 5 sao là 100 triệu đồng. Chính sách này khuyến khích các chủ thể nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư cho bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa quy trình sản xuất gắn với công nghệ. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh có 209 sản phẩm OCOP thuộc 130 chủ thể được xếp hạng, trong đó 142 sản phẩm 3 sao, 67 sản phẩm 4 sao, vượt mục tiêu đề ra đến năm 2025.
Các cấp Hội Nông dân giữ vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn ứng dụng công nghệ. Tại xã Yên Sơn, Chủ tịch Hội Nông dân Lê Văn Vượng cho biết Hội coi chuyển đổi số là nhiệm vụ then chốt để nâng cao thu nhập cho hội viên, tổ chức sinh hoạt chi hội, lớp tập huấn, tận dụng hệ thống loa truyền thanh, mạng xã hội để lan tỏa thông tin, khuyến khích những nông dân sản xuất giỏi đi đầu làm mẫu.
Về hạ tầng, tỉnh chú trọng xây dựng hệ thống dữ liệu quản lý nguồn gốc, chất lượng, an toàn thực phẩm, cấp mã số vùng trồng cho sản phẩm chủ lực, phối hợp giới thiệu và hướng dẫn sử dụng các sàn thương mại điện tử. Nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác được tập huấn về kinh doanh online, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, cách trình bày sản phẩm, tương tác với khách hàng.
Từ các khu công nghiệp công nghệ cao đến những trang trại dưa lưới, xưởng chế biến sắn dây, từ dữ liệu thống kê GRDP đến từng mã QR trên sản phẩm OCOP, Ninh Bình đang từng bước kiến tạo trụ cột kinh tế số cho không gian phát triển rộng mở, hướng tới trở thành trung tâm kinh tế số của vùng đồng bằng sông Hồng./.
Nguồn: https://mst.gov.vn/kinh-te-so-tro-thanh-dong-luc-tang-truong-moi-cua-ninh-binh-197251129220552572.htm






Bình luận (0)